Archive for the Education Category

Toàn cầu hóa trong ban giám đốc

Posted in business, Kinh doanh, The gioi with tags , on July 23, 2008 by keronii

Trong vòng gần 4 thập kỷ tồn tại, SAP được coi là một doanh nghiệp của người Đức.

Công ty công nghệ lớn nhất nước Đức này có hơn 15.000 nhân viên trong nước và là thành viên lớn nhất trong chỉ số DAX-30, hàn thử biểu chính của thị trường chứng khoán nước này. Các loại phần mềm do SAP sản xuất hiện được sử dụng cho hoạt động kế toán, sản xuất và hệ thống lưu kho của nhiều trong số những công ty lớn nhất thế giới.

sap.jpg


Xu hướng mới
Tuy nhiên, SAP đang toàn cầu hóa với tốc độ rất nhanh chóng.  Tháng 4 vừa qua, người Mỹ được nắm giữ vị trí cao nhất trong SAP là ông Bill McDermott đã tham gia vào ban giám đốc của hãng. Ngày 1/7, SAP đưa Jose Duarte, một người Bồ Đào Nha, vào vị trí người đứng đầu bộ phận bán hàng tại thị trường châu Âu. Và theo dự kiến, tới tháng 5/2009, một người Pháp gốc Đức có tên Leo Apotheker sẽ trở thành CEO của tập đoàn này.

Tuy nhiên, SAP còn đang dự định có những bước tiến táo bạo hơn. Vài năm nữa, SAP sẽ bổ nhiệm một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc vào ban giám đốc của hãng, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử công ty có một giám đốc không phải là người phương Tây. “Trong vòng 3 – 5 năm tới, chắc chắn sẽ có một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc trong ban giám đốc của chúng tôi”, CEO Henning Kagermann của SAP khẳng định.

Vị CEO này chưa “điểm danh” các ứng cử viên, tuy nhiên SAP đã có những ngôi sao đang nổi lên trong khu vực châu Á để lựa chọn. CEO của hãng tại Ấn Độ Rajan đã chuyển từ Mumbai tới Silicon Valley cách đây 1 năm. Một nhân vật nữa là Shang Ling Jui, Chủ tịch phụ trách bộ phận thí nghiệm của SAP tại Trung Quốc, một người gốc Đài Loan nhưng hiện mang quốc tịch Đức.

Nếu SAP chọn được một nhân vật phù hợp trong số những người này này để đưa vào ban giám đốc, doanh số của hãng tại các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng mạnh hơn nữa. Hiện Ấn Độ là thị trường tăng trưởng nhanh nhất của SAP, với doanh thu tăng gấp đôi hàng năm. Trong khi đó, doanh số của hãng tại thị trường Trung Quốc cũng tăng tới 50% mỗi năm.

Trong một kỷ nguyên mà hoạt động sản xuất, dịch vụ và nhất là doanh số tiêu thụ tại châu Á đang tăng mạnh, ngày càng có nhiều công ty Mỹ và châu Âu bắt đầu chính sách “hướng Đông”, nhìn về Ấn Độ, Trung Quốc và các thị trường đang nổi lên khác để tìm kiếm thế hệ tiếp theo trong ban lãnh đạo.

Tập đoàn ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ, vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực công nghiệp của Ấn Độ, mới đây đã bổ nhiệm một “đại gia” ngành thép gốc Ấn là tỷ phú Lakshmi Mittal vào một trong những ghế giám đốc của tập đoàn.

Tháng 5 vừa qua, Nokia – hãng điện thoại di động của Phần Lan hiện đang chiếm thị phần cao nhất ở Ấn Độ – cũng đưa Lalita Gupte, Chủ tịch của quỹ đầu tư mạo hiểm ICICI tại Mumbai, vào ban giám đốc. Năm ngoái, một người Ấn Độ khác là N.R. Narayana Murthy – người đồng sáng lập công ty công nghệ Infosys Technologies, tham gia ban giám đốc của hãng sản xuất hàng tiêu dùng đến từ Hà Lan Unilever.

Tập đoàn dược phẩm Novartis, hãng sản xuất hàng tiêu dùng Proter & Gamble (P&G)… là vài doanh nghiệp khác trong số những công ty Mỹ và châu Âu đã thuê người gốc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào ban giám đốc của họ.

“Chúng ta sẽ còn thấy nhiều trường hợp như vậy. Đây rõ ràng là một xu hướng”, ông Roger Kenny, Chủ tịch công ty tư vấn nhân sự Boardroom Consultants cho biết. Công ty của ông hiện đang tuyển dụng giám đốc ở Trung Quốc và Ấn Độ cho ít nhất hai công ty dược lớn của phương Tây.

Vai trò của giám đốc người châu Á
Giám đốc đến từ các thị trường đang nổi lên có thể giúp các công ty phương Tây xây dựng cầu nối chiến lược tới các quan chức doanh nghiệp và chính phủ, giải quyết những khó khăn về hành chính và luật pháp, đồng thời cân đo tác động của các quyết định được đưa ra từ các trụ sở ở phương Tây đối với các khách hàng ở New Dehli hay Thượng Hải.

Các thành viên người Ấn Độ và Trung Quốc trong ban giám đốc cũng có thể sát cánh với các thành viên còn lại trong việc ra quyết định đối với thị trường châu Á.

Đối với SAP, một thách thức là toàn cầu hóa bộ phận quan chức cao cấp của tập đoàn mà không làm mất đi bản sắc Đức. Trong khi mở rộng ra thị trường bên ngoài, hãng thận trọng không cắt giảm việc làm trong nước nhằm đảm bảo lòng trong trung thành của nhân viên và đảm bảo danh tiếng về chất lượng Đức.

“Chúng tôi là một công ty toàn cầu với gốc rễ ở Đức. Chúng tôi tự hào về gốc rễ này. Danh tiếng của cụm từ ‘Made in Germany’ vẫn tuyệt vời”, ông Kagerman nói.

Xét tới nhu cầu của tầng lớp người tiêu dùng trung lưu đang nổi lên ở Ấn Độ, Trung Quốc và Trung Đông đối với các sản phẩm laptop và điện thoại di động, cũng như nhu cầu của các quốc gia này trong việc hiện đại hóa hệ thống máy tính dùng trong các doanh nghiệp – các công ty công nghệ chính là những ứng cử viên rất tự nhiên trong việc đa dạng hóa quốc tịch trong ban giám đốc của họ.

Hãng máy tính HP đã đạt khoảng 70% doanh thu của họ từ thị trường nước ngoài; ở IBM, con số này là 2/3; còn ở Cisco, tỷ lệ này là 45%. “Nếu nhìn vào doanh thu của những công ty được coi là những doanh nghiệp Mỹ , có thể thấy, họ không còn là những công ty thuần Mỹ nữa”, giáo sư Vivek Wadhwa tại Đại học Duke và Trường Luật Havard nhận xét.

Nhà phân tích phần mềm Heather Bellini tại ngân hàng UBS cho rằng, không có gì là khó hiểu khi các công ty công nghệ muốn đưa vào ban giám đốc những thành viên hiểu biết rõ về các thị trường đang nổi lên. “Châu Á là một khu vực tăng trưởng khồng lồ”, bà nhận xét.

Tuy nhiên, xu hướng này tới nay vẫn tập trung trong lĩnh vực ngân hàng, sản xuất công nghiệp và hàng tiêu dùng. Ratan Tata, Chủ tịch tập đoàn Tata của Ấn Độ, năm 2007 đã gia nhập ban giám đốc của hãng nhôm Alcoa của Mỹ. Giám đốc người Thổ Nhĩ Kỳ Muhtar Kent mới đây đã trở thành CEO của Coca-Cola sau khi đã giữ một ghế giám đốc trong công ty này từ năm 2006. Mukesh Ambani, Chủ tịch công ty dầu lửa Reliance Industries, đồng thời là người giàu nhất Ấn Độ, có một ghế trong ban cố vấn của Citigroup, mặc dù ông không phải là một giám đốc.

Lý do là các công ty của Mỹ – quốc gia tập trung phần lớn ngành công nghệ của thế giới – được tiếp cận với một nguồn nhân lực giám đốc tiền năng lớn hơn ngay tại trong nước. Mặt khác, theo ông Charles Geoly, Giám đốc điều hành công ty săn đầu người Russell Reynolds Associates, một số tập đoàn của Mỹ như IBM, Coke và P&G phụ thuộc dựa nhiều vào thị trường Mỹ Latin hơn là châu Á.

Trong tất cả 500 công ty lớn nhất nước Mỹ năm 2006, chỉ có 81 ghế trong các ban giám đốc thuộc về người châu Á và Mỹ gốc Á.

Những hạn chế
Theo các nhà tuyển dụng, trên thực tế, việc tìm kiếm các ứng cử viên đủ kinh nghiệm, đủ khả năng để thường xuyên đi lại vòng quanh thế giới để tham dự các cuộc họp ban giám đốc và chịu đựng nổi “sự khó chịu” của các cổ đông phương Tây hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng.

“Có sự khác biệt lớn giữa những gì mà ban giám đốc muốn làm, những gì mà họ thực sự có thể làm được”, một nhà tuyển dụng cho biết.

Chuyện đi lại là một vấn đề lớn vì các giám đốc phải đi lại bằng máy bay ít nhất 6 lần một năm để tham dự các cuộc họp. Cũng theo các nhà tuyển dụng, ngoài ra, một số ứng cử viên còn lo ngại về việc tài sản cá nhân của họ có thể gặp nguy hiểm trong trường hợp các cổ đông phát đơn kiện họ.

Một khó khăn nữa trong việc tuyển dụng là tìm được những giám đốc từ các nền kinh tế đang nổi lên, nhưng lại có nền tảng phù hợp với một công ty phương Tây. Thường thì giám đốc trong một công ty thuộc chỉ số Standard & Poor’s 500 của thị trường chứng khoán Mỹ hiện ở độ tuổi khoảng 62 tuổi. Điều này có nghĩa là, nếu họ có kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm đó thường là thị trường châu Âu.

Trong khi đó, các giám đốc có kinh nghiệm ở thị trường Ấn Độ và Trung Quốc hiện thường ở thời kỳ giữa trong sự nghiệp của họ, và họ chưa sẵn sàng với sự biến chuyển nhanh chóng là nhảy vào một ghế trong ban giám đốc của một công ty nào đó.

Để giải quyết vấn đề này, các công ty có thể tuyển dụng giám đốc là chuyên gia về thị trường châu Á, nhứng lại không phải là người bản xứ.  Ông John Thornton , nguyên chủ tịch của Goldman Sachs, hiện đang dạy tại Đại học Tsinghua ở Bắc Kinh, là một ví dụ. Ông là một người rất hiểu biết về hoạt động kinh doanh ở châu Á và hiện đang ở trong ban giám đốc của các tập đoàn lớn như Intel, Ford và News Corp.

Chứng khoán tăng có thực sự bền vững?

Posted in business, Kinh doanh with tags on July 21, 2008 by keronii

Đã qua hơn ba tuần thị trường chứng khoán Việt Nam tăng liên tục, mức tăng khó có một thị trường nào sánh kịp trong khi chứng khoán thế giới liên tục mất điểm. Đâu là yếu tố tạo nên điều kỳ lạ đó?

Thông tin thị trường

Khởi đầu cho sự tăng trưởng của thị trường là thông tin từ hai đối tác chiến lược của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) là ANZ và Daiwa đăng ký mua thêm cổ phiếu thông qua giao dịch thỏa thuận và khớp lệnh. Tiếp đến là các thông tin vĩ mô có vẻ giúp thị trường “lạc quan” hơn với chỉ số lạm phát được “kiểm soát”, thâm hụt cán cân thương mại giảm, thị trường ngoại tệ được chấn chỉnh, cuộc đua tăng lãi suất được kìm lại…

Tuy nhiên, trên các kênh thông tin khác, sự thật không đơn giản như thế. Tính chu kỳ của lạm phát là điều đáng để bàn và khi sức mua theo chu kỳ bị chững lại thì thâm hụt thương mại sẽ giảm. Không chỉ thế, nguồn cung ngoại tệ gặp khó khăn thì đương nhiên thâm hụt thương mại sẽ giảm đi… Thị trường ngoại tệ, vàng bị kiểm soát, “sóng” không duy trì ở những thị trường này tất yếu sẽ tìm đến kênh tạo sóng mới. Đó chính là thị trường chứng khoán.

Tâm lý thua lỗ từ thị trường là một yếu tố khiến cho những nhà đầu tư tham gia thị trường trước đây luôn sẵn sàng quay lại khi có những tín hiệu được cho là “lạc quan”. Diễn biến thời gian qua là một minh chứng cho điều đó. Họ sẵn sàng quay lại thị trường để tìm kiếm khoản chênh lệch giá bù đắp cho những tổn thất trước đây chứ không chú ý đến bản chất của giá trị cổ phiếu. Nghĩa là họ cố gắng lấy tiền từ túi người khác hơn là chính công ty niêm yết chi trả cho họ. Khi mà tất cả nhà đầu tư đều cho là mình thông minh thì tiền lời sẽ đến từ đâu?

Nếu trước đây thị trường điều chỉnh do những yếu tố vĩ mô không tốt thì nay liệu những điều đó đã cải thiện được bao nhiêu? Theo các kịch bản của Tổng cục Thống kê, trong sáu tháng cuối năm, nếu mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 1% thì lạm phát cả năm đạt được mức kỳ vọng của thị trường là 24,75%. Trong khi lạm phát tháng 6 còn ở mức 2,14% thì liệu kịch bản này có hiện thực? Nếu mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,2% thì con số sẽ là 27,25% (vượt mức kỳ vọng của thị trường)…

Những vấn đề này còn cần thời gian để kiểm định. Ba bốn tuần qua không phải là khoảng thời gian để khẳng định các yếu tố vĩ mô đã được kiểm soát.

Vn-Index giảm hơn 12 điểm

Posted in business, Kinh doanh with tags on July 21, 2008 by keronii

Chứng khoán khởi đầu tuần mới tiếp tục có diễn biến điều chỉnh giảm mạnh. SSI trở thành mã cổ phiếu duy nhất tăng trần với giao dịch chiếm gần 50% giao dịch toàn thị trường.

Thị trường đang bước vào giai đoạn điều chỉnh thì bất ngờ việc công bố tăng giá xăng dầu đã khiến nhiều nhà đầu tư lo ngại, phản ứng với những diễn biến mới này, kết thúc phiên giao dịch sáng nay, bảng giao dịch điện tử bị bao trùm bởi màu đỏ khi hàng loạt cổ phiếu giảm giá.

Với xu hướng bán ra khá mạnh trong những phiên giao dịch cuối tuần trước, lượng cung tăng mạnh, dư bán đã kín hết tất cả các mã cổ phiếu, tuy nhiên giao dịch vẫn giữ ở mức 16,145 triệu đơn vị được giao dịch với giá trị là gần 746,253 tỷ đồng.

Việc cổ phiếu BBT của CTCP Bông Bạch Tuyết đã được UBCKNN cho phép giao dịch trở lại từ hôm nay thì trong tổng số 157 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết, ghi nhận chỉ có duy nhất 1 mã tăng giá, 3 mã giữ giá tham chiếu, 4 mã không có giao dịch và còn lại là 149 mã giảm giá.

Với hầu như toàn bộ các mã cổ phiếu giảm giá, Vn-Index đã giảm mạnh 12,23 điểm (tương đương giảm 2,53%) xuống còn 470,2 điểm. SSI của CTCP Chứng khoán Sài Gòn la cổ phiếu duy nhất tăng giá và có mức tăng kịch trần trong phiên giao dịch ngày hôm nay, đây đã có phiên tăng trần thứ 21 liên tục của cổ phiếu này.

Lượng giao dịch của SSI cũng chiếm gần 50% giao dịch khớp lệnh toàn thị trường với hơn 7 triệu cổ phiếu được khớp lệnh. Như vậy kết thúc phiên giao dịch ngày hôm nay, room cho nhà đầu tư nước ngoài ở mã này đã hết.

Trong số 149 mã giảm giá thì có đến 147 mã giảm kịch sàn, giảm mạnh nhất là là DHG giảm 4.000 đồng và 5 mã khác đều giảm 3.000 đồng là IMP , PVD, VIC, VNM và VPL. Cổ phiếu BBT của Bông Bạch Tuyết được giao dịch trở lại hôm nay cũng giảm sàn 200 đồng xuống 8.600 đồng/cổ phiếu và chỉ có 2.350 cổ phiếu được giao dịch.

Bên sàn Hà Nội, Hastc-Index kết thúc phiên giao dịch giảm 1,4 điểm xuống 148,28 điểm. Khối lượng giao dịch trên sàn giảm so với tuần trước nhưng vẫn ở mức 5,256 triệu cổ phiếu, tương đương 238,8 tỷ đồng.

Các cổ phiếu tăng giá nhiều nhất sàn Hà Nội là KBC, DTC, YSC, DAC và PVS. Trong đó, PVS đứng đầu về lượng giao dịch trên toàn thị trường với hơn 1,85 triệu cổ phiếu được giao dịch trong phiên. Đóng cửa, PVS giảm sàn xuống 42.000 đồng/CP với gần 500.000 cổ phiếu dư bán sàn. Bình quân, cổ phiếu dầu khí này tăng 800 đồng lên 44.500 đồng/CP.

Các cổ phiếu giảm giá nhiều nhất sàn trong phiên này đều là các “đại diện” luôn nằm trong top các cổ phiếu tăng giá nhiều nhất tuần trước. MIC, RCL, SCJ, BVS và NTP đều giảm sàn và hoàn toàn không có dư mua vào cuối phiên, với mức giảm từ 1.800 đồng – 3.900 đồng/CP.

Trong khi đó, cổ phiếu “đầu tàu” ACB của ngân hàng Á Châu ACB sau khi công bố lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2008 đạt hơn 1000 tỷ đồng, phiên này đã giảm 1.300 đồng/CP xuống 68.100 đồng/CP với gần 800.000 đơn vị khớp lệnh.

Chứng khoán nghỉ để tăng hay nghỉ để giảm?

Posted in business, Kinh doanh with tags on July 21, 2008 by keronii

Diễn biến 3 phiên gần nhất có thể xem là đợt nghỉ tạm thời. Nhưng sau đó, thị trường sẽ đi lên hay giảm tiếp?

Chờ tín hiệu

Diễn biến tăng của thị trường cũng giống như ném một hòn đá lên cao. Lực ném càng mạnh, hòn đá bay càng cao. Nhưng càng lên cao động năng lại chuyển thành thế năng càng lớn; và lúc động năng được chuyển hóa hết, hòn đá sẽ lại rơi xuống.

Với thị trường, khối lượng giao dịch càng lớn lực kéo xuống sẽ càng lớn. Thị trường hiện tại chưa thể trả lời liệu lực ném lên (tăng giá) đã chuyển hóa hết hay chưa và liệu thị trường sẽ chuyển sang đi ngang để tăng tiếp, hay đi ngang để bắt đầu điều chỉnh xuống. Đối với những nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật, điều đó rất hiển nhiên vì diễn biến 3 phiên gần đây có thể coi là đợt điều chỉnh nghỉ tạm thời.

Các chỉ báo cơ bản như đường trung bình 20 ngày tiếp tục tăng, biểu hiện của động lực gia tăng về giá vẫn còn. Chỉ báo phân kỳ hội tụ của đường bình quân MACD tiếp tục lạc quan khi đường này vẫn chưa cắt xuống dưới đường tín hiệu (signal) và vẫn nằm trên giá trị 0… Nguyên nhân cơ bản là các chỉ báo kỹ thuật đều phản ánh chậm so với diễn biến thực tế. Do đó, có lẽ những nhà phân tích kỹ thuật sẽ phải chờ đợi thêm một vài phiên tới để ra quyết định.

Một công cụ có thể cho thấy chỉ báo đường bình quân với giá trị High của VN-Index. Sở dĩ chúng tôi chọn giá trị cao nhất thay vì giá trị đóng cửa vì chúng ta đều biết rằng đặc điểm của một chu kỳ tăng là liên tiếp xác lập những giá trị High cao hơn phiên trước. Nếu các giá trị High trong ngày giảm dần thì rõ rằng lực tăng không còn mạnh.

 

Trên hình là một chuỗi các đường EMA với giá trị từ 10 đến 20 ngày. Màu xanh thể hiện sự tăng giá và màu đỏ thể hiện sự giảm giá. Có thể thấy rất rõ chỉ báo này có độ trễ nhất định ở một số điểm đảo chiều của thị trường.

Với thị trường hiện tại, nếu căn cứ vào chỉ báo này, nhà phân tích kỹ thuật sẽ vẫn ung dung chờ đợi một tín hiệu rõ ràng hơn, có thể tìm thấy trong tuần tới. Các tín hiệu kỹ thuật như vậy thường phát tín hiệu mua vào chậm – đồng nghĩa với sự cẩn trọng – nhưng cũng phát tín hiệu bán ra chậm.

Khi phân tích kỹ thuật dựa trên cơ sở các chỉ báo bình quân thường chậm chạp hơn những diễn biến thực tế, có một cách tiếp cận khác là căn cứ theo diễn biến cung cầu trong một chuỗi thời gian cũng như trong mỗi phiên.

Chúng tôi đã sử dụng số liệu tổng cung và cầu trong các phiên để xây dựng một chỉ báo trung bình cho nó nhằm quan sát tương quan diễn biến của bên mua và bên bán. Quy mô trung bình các lệnh mua và bán cũng được sử dụng để theo dõi sức mạnh tương đối của mỗi bên.

Trong hình dưới, đường màu xanh (blue) là giá trị bình quân 5 ngày của khối lượng mua và đường màu đỏ là bình quân khối lượng bán. Đường màu xanh dương (green) thể hiện tương quan hiệu số của quy mô lệnh mua và lệnh bán.

 

Với biểu đồ này, chúng ta nhận thấy sức mua đã thiết lập một đỉnh cao nhất trong lịch sử vào ngày 16/7 với 65,04 triệu cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, sức mua đã giảm xuống. Vậy chúng ta có mong đợi sức cầu sẽ tiếp tục đạt được một đỉnh cao mới nữa hay không?

Câu trả lời là khó đạt được do nguồn tiền chảy vào thị trường là có hạn. Dĩ nhiên trên thị trường thì điều gì cũng có thể xảy ra và chúng ta có quyền lạc quan. Tuy nhiên cẩn trọng vẫn là không thừa.

Theo góc độ tiếp cận đó, chúng ta cần chờ đợi một lực mua mạnh hơn để đảm bảo một khả năng tăng giá tiếp tục. Nếu dạo qua một số công ty chứng khoán vào buổi chiều, có thể thấy khá nhiều nhà đầu tư đang làm thủ tục nạp tiền vào tài khoản, nhưng dù sao vẫn cần kiểm chứng về sức mạnh của đội tiếp sức này như thế nào trong một vài phiên tới.

Một điểm khác cần lưu tâm là sức mạnh của bên bán. Chúng ta biết rằng không phải cứ mỗi người bán là có một người mua tương ứng, mà là một người bán có thể bằng nhiều người mua nếu tính trên khối lượng được bán ra. Do đó nếu bên mua là những nhà đầu tư cá nhân với tiềm lực tài chính yếu thì thị trường đang có vấn đề cần lo lắng.

Bởi lẽ, khi tăng đến một mức độ nào đó, các tổ chức lớn vốn thực hiện tích lũy từ các mức giá thấp có thể sẽ bán ra thu lời. Đó là chưa kể đến nhu cầu cắt lỗ của rất nhiều thành phần khác, từ lớn đến nhỏ vốn bị kẹp khá dài trong suốt thời gian giảm sâu vừa qua.

 

Ở trên, sức mua của thị trường đạt đỉnh cao nhất vào ngày 16/7. Cũng tại ngày đó, thị trường còn thiết lập một kỷ lục về khối lượng giao dịch. Như vậy rõ ràng cung lớn cũng đã xuất hiện cùng với cầu. Biểu đồ phía trên cũng cho thấy sức mua đã giảm xuống trong những phiên cuối tuần qua, kết hợp với đó là khối lượng giao dịch tiếp tục rất cao. Sự xâu chuỗi này có thể khiến chúng ta đặt câu hỏi, liệu sức mua có còn mạnh mẽ như trước sau khi đã phải đỡ một lực bán mạnh?