Archive for the Kinh doanh Category

Bất động sản khu công nghiệp: Sôi động từ Bắc vào Nam

Posted in Kinh doanh, Vietname Economy on July 27, 2008 by keronii

Hiện nay, hầu hết diện tích các khu công nghiệp tại Việt Nam đã được lấp đầy.

Theo đánh giá mới đây của Công ty Quản lý tư vấn bất động sản CBRE, triển vọng phát triển của các khu công nghiệp tại Việt Nam tương đối khả quan. Lý do, theo công ty này, là vì ngày càng nhiều các công ty sản xuất quốc tế đang xem xét việc thành lập công ty hoặc mở rộng hoạt động tại Việt Nam do Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá thuê đất và giá nhân công so với nhiều quốc gia châu Á khác.

Bên cạnh đó, thị trường tiêu dùng cũng như nền kinh tế Việt Nam đều có triển vọng phát triển rất tích cực. Khu vực tư nhân đang phát triển mạnh mẽ cũng là một nguồn cầu rất lớn cho các dự án công nghiệp.

Miền Bắc, tỉ lệ lấp đầy cao

Tính đến cuối tháng 6 năm 2008, ở miền Bắc Việt Nam có 54 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng lượng vốn đăng ký vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp vào khoảng 1,88 tỷ USD; tổng lượng vốn thực hiện 633 triệu USD. Điều này cho thấy sức hút của các khu công nghiệp là khá lớn.

Ông Marc Towsend, Tổng giám đốc CEBR Việt Nam, phân tích: công nghiệp đóng vai trò dẫn đầu trong nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của Việt Nam. Năm 2003, công nghiệp và xây dựng vượt qua dịch vụ để trở thành khu vực đóng góp nhiều nhất vào GDP của Việt Nam. Theo số liệu năm 2007, tỷ lệ này chiếm khoảng 42% GDP, còn sản lượng công nghiệp đã tăng 17% so với năm trước.

Ở khu vực đồng bằng sông Hồng, con số này còn cao hơn, đạt 23,6% năm 2007. So với 8 khu vực khác của Việt Nam, đồng bằng sông Hồng là khu vực tập trung dân số đông nhất với hơn 18 triệu người, trong đó gần 72% dân số nằm trong độ tuổi lao động. Nơi đây đang là một điểm nhấn về phát triển công nghiệp với rất nhiều khu công nghiệp mới được cấp phép hoạt động và các khu công nghiệp hiện tại được mở rộng.

Đường cao tốc ôtô Hà Nội – Hải Phòng vừa được khởi công vào tháng 5 năm 2008 hứa hẹn sẽ tạo điều kiện để phát triển các tỉnh thuộc trục Đông – Tây này. Nhiều dự án dọc theo đường quốc lộ và đường sắt đang được triển khai, sự phát triển mạnh mẽ của hai điểm đầu kinh tế Hà Nội và Hải Phòng cũng như những thuận lợi về vị trí của thành phố cảng đã giúp hình thành nên hành lang khu công nghiệp Hà Nội – Hải Phòng với sự xuất hiện của 10 khu công nghiệp dọc theo quốc lộ 5A, và cụm khu công nghệ cao cùng nhiều khu công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ tại hai thành phố điểm đầu của tuyến công nghiệp này.

Nhu cầu về diện tích tại các khu công nghiệp được thể hiện qua tỷ lệ lấp đầy cao tại các khu công nghiệp đang hoạt động: 6 khu công nghiệp tại Hà Nội đã được thuê gần hết, 80% diện tích đã được thuê ở các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên, 4 trong số 7 khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương đã được thuê hết.

Tỷ lệ này ở Khu công nghiệp Nomura và Khu công nghiệp Đình Vũ (giai đoạn một) tại Hải Phòng lần lượt là 95% và 100%. Hầu hết các nhà máy và các tiện ích công nghiệp khác đều nằm trong các khu công nghiệp có diện tích từ 20 – 30 ha như Khu công nghiệp Thăng Long (Hà Nội) hay đến gần 1.000 hecta như Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng).

Thông thường, các khu công nghiệp cho các nhà sản xuất thuê đất đã có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện với thời hạn thuê dài. Giá thuê trong các khu công nghiệp thường được tính bằng USD trên thời hạn thuê đất của các khu công nghiệp. Nhu cầu tăng đã đẩy giá thuê đất tại nhiều khu công nghiệp tăng.

Giá thuê đất tại các khu công nghiệp ở Hà Nội cao nhất: tại khu công nghiệp Đại Từ – Hà Nội đã lên mức 150 USD/m2/thời hạn thuê đất tối đa (38 năm); tại Khu công nghiệp Sài Đồng B và Nam Thăng Long ở Hà Nội lần lượt là 125 USD/m2/41 năm và 100 USD/m2/44 năm. Giá thuê đất tại các các khu công nghiệp ở Hưng Yên và Hải Dương dao động ở mức 45–55 USD/m2/thời hạn thuê. Hầu hết các khu công nghiệp ở đây đều tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, sản xuất giày, chế biến thực phẩm.

Trong 6 tháng đầu năm 2008, nhiều dự án công nghiệp và khu công nghiệp dọc hành lang khu công nghiệp Hà Nội – Hải Phòng đã phát triển và xu hướng này được kỳ vọng sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới.

Miền Nam, hầu như không còn chỗ trống

Ông Trương Thái Sơn, Tổng giám đốc Công ty Địa ốc Hoàng Quân, cho biết: hiệu suất sử dụng đất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Tp.HCM hiện vào khoảng 100% và do lượng cung không đủ cầu nên giá thuê cũng tăng 30% so với cùng kỳ năm 2007.

Cao nhất là giá thuê đất tại khu chế xuất Tân Thuận, đạt mức trên 100 USD/m2/năm, tiếp đó là khu công nghiệp Tân Bình, Linh Trung với mức giá cho thuê khoảng 70 USD/m2/năm. Ở Đồng Nai, khu công nghiệp Amata cũng có giá khá “ngất ngưởng”: khoảng 60-65 USD/m2/năm.

Nguyên nhân giá thuê đất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tăng cao là do quỹ đất có hạn mà chỉ có một số khu công nghiệp, khu chế xuất được phép mở rộng diện tích. Các khu được phép mở rộng đang cố gắng hoàn thành giai đoạn 2, giai đoạn 3 để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, trong đó có khu công nghiệp Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Tân Phú Trung, Tây Bắc Củ Chi.

Theo ông Sơn, đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất đang là cơ hội và lợi thế của các nhà đầu tư bất động sản vì có thuận lợi là quá trình làm thủ tục nhanh gọn, được hưởng nhiều chính sách ưu đãi… Tuy nhiên, để có được thành công, họ phải là các doanh nghiệp có thế mạnh về tiềm lực và giàu kinh nghiệm quản lý.

Công ty CBRE Việt Nam dự báo, thị trường bất động sản khu công nghiệp sẽ tiếp tục sôi động trong nhiều năm tới do Việt Nam đang là một trong những điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư nước ngoài.

Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 32.000 ha, thu hút được trên 2.600 dự án có vốn đầu tư nước ngoài trị giá 25,3 tỉ USD, chiếm 72% quỹ đất của khu công nghiệp, khu chế xuất và chiếm 60% vốn FDI.

Chính phủ Việt Nam cũng đã quyết định thành lập 8 khu kinh tế, trong đó có những khu kinh tế được khởi động nhanh như Khu kinh tế Chu Lai, Khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế Nhơn Hội, khu kinh tế Phú Quốc.

Theo qui hoạch phát triển các khu công nghiệp, từ nay tới năm 2015, cả nước dự kiến thành lập mới trên 100 khu công nghiệp với diện tích đất dự kiến khoảng 26.000 ha. Tuy nhiên, số lượng này cũng khó đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.

Theo ông Stephen Butler, chuyên gia tư vấn về chính sách đất đai của IFC, các khu công nghiệp chủ yếu được quy hoạch để dành cho các nhà đầu tư lớn, và thường được áp dụng quy trình thủ tục giao đất đơn giản, nhanh chóng, cũng như được áp dụng các ưu đãi đầu tư theo hình thức giảm tiền thuê đất.

“Quan sát của chúng tôi từ nhiều năm nay là ở một số nền kinh tế đang chuyển đổi, các nhà đầu tư nước ngoài lớn thường nhận được nhiều sự giúp đỡ của chính quyền sở tại hơn so với các doanh nghiệp trong nước có quy mô vừa phải. Ở Việt Nam mới có khoảng 4% số doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước trong khảo sát của IFC nằm trong khu công nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp khác phải tự lo liệu để có đất từ thị trường thứ cấp”, ông nói.

Điều đó cho thấy thị trường bất động sản các khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng.

Mỹ: Thêm hai ngân hàng bán lẻ vỡ nợ

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags , on July 27, 2008 by keronii

Các nhà chức trách của Mỹ vừa đóng cửa thêm hai ngân hàng bán lẻ là First National Bank of Nevada và First Heritage Bank NA of California. Tổng số 28 chi nhánh của các ngân hàng này tại các bang Nevada, Arizona và California đã bị đóng cửa vào ngày 25/7 theo giờ địa phương.

Đây là hai ngân hàng thuộc sở hữu của công ty First National Bank Holding có trụ sở ở bang Arizona. Dưới sự sắp xếp của Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), hai ngân hàng này đã được bán lại cho ngân hàng Mutual of Omaha.

FDIC cho biết, các chi nhánh nói trên sẽ được mở cửa trở lại vào thứ Hai tuần tới với tư cách là chi nhánh của ngân hàng Mutual of Omaha. Cũng theo cơ quan này, việc tiếp quản hai ngân hàng vỡ nợ nói trên là giải pháp ít tốn kém nhất và tất cả các khách hàng gửi tiền tại hai ngân hàng này – bao gồm cả những người có số tiền gửi vượt quá giới hạn bảo hiểm của FDIC – sẽ được chuyển sang ngân hàng Mutual of Omaha với toàn bộ số tiền gửi của họ.

Ngoài ra, những ai có tài khoản tại hai ngân hàng này vẫn có thể truy cập tài khoản của họ trong suốt hai ngày cuối tuần này bằng cách viết séc, sử dụng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng.

Tính đến ngày 30/6 vừa qua, hai ngân hàng bị đóng cửa nói trên có tổng tài sản là 3,6 tỷ USD, so với mức 4,1 tỷ USD vào thời điểm 6 tháng trước đó. Ở trong tình trạng thiếu vốn, First National có tổng tài sản là 3,4 tỷ USD và nắm giữ 3 tỷ USD tiền gửi của khách hàng. Còn First Heritage – bị coi là thiếu vốn nghiêm trọng – có tài sản 254 triệu  USD và nắm giữ 233 triệu USD tiền gửi của khách hàng.

Về phần mình, ngân hàng Mutual of Omaha hiện có tài sản 750 triệu USD và vận hành 14 chi nhánh bán lẻ tại các bang Nebraska và Colorado. Đây là một chi nhánh của công ty dịch vụ tài chính và bảo hiểm Mutual of Omaha đã có lịch sử 99 năm.

FDIC cho biết, chi phí của vụ chuyển nhượng hai ngân hàng này cho Mutual of Ohma ước tính lên tới 862 triệu USD, đồng thời nhấn mạnh, hai ngân hàng này chỉ chiếm có 0,3% trong tổng số tài sản lên tới 13.400 tỷ USD tại 8.500 ngân hàng mà FDIC bảo hiểm.

FDIC hiện đang quản lý số tiền 53 tỷ USD để bảo lãnh cho các ngân hàng nằm trong diện bảo hiểm của tổ chức này. Số tiền bảo hiểm lên tới 100.000 USD cho mỗi tài khoản tiền gửi và 250.000 USD cho mỗi tài khoản hưu trí cá nhân. Hiện FDIC đang có một danh sách 90 ngân hàng gặp vấn đề tính đến hết quý 1 năm nay. Bản danh sách này sẽ được cập nhật thêm vào tháng tới.

Các nhà chức trách của Mỹ đã lên tiếng cảnh báo về việc có thêm những ngân hàng vỡ nợ nữa trong năm nay và năm tới, tuy nhiên, khó có khả năng xảy ra vụ sụp đổ nào lớn như vụ sụp đổ cách đây 2 tuần của ngân hàng IndyMac với tài sản 32 tỷ USD và lượng tiền gửi 19 tỷ USD. Là ngân hàng phá sản lớn thứ 3 ở Mỹ, hiện IndyMac vẫn nằm dưới sự giám sát của FDIC và có thể khiến quỹ của FDIC “hao” từ 4 – 8 tỷ USD. FDIC vẫn đang trong quá trình tìm khách để bán lại tài sản của ngân hàng này.

Theo ông Bill Uffelman thuộc Hiệp hội Ngân hàng Nevada, việc FDIC tiếp quản hai ngân hàng nói trên đã phản ánh tình hình khó khăn của các ngân hàng Mỹ trong bối cảnh kinh tế tồi tệ hiện nay. Quý 2 vừa qua tiếp tục là một quý đầy sóng gió đối với ngành ngân hàng Mỹ. Trong quý có tới 220.000 ngôi nhà bị tịch biên vì chủ nhà không trả nổi nợ ngân hàng, gần gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Từ đầu năm đến nay, đã có 7 ngân hàng ở Mỹ bị vỡ nợ.

Thống kê cho thấy, đã có gần 740.000 hồ sơ tịch biên nhà trong quý, tăng 14% so với quý 1 và tăng 121% so với cùng kỳ năm 2007. Như vậy, cứ 171 hộ gia đình ở Mỹ thì có 1 hộ nhận được một bộ hồ sơ đòi tịch biên nhà bao gồm thông báo vỡ nợ, thông báo bán đấu giá nhà và thông báo quyền sở hữu ngôi nhà của ngân hàng.

Rối bời Ngân hàng Hồng Việt

Posted in Kinh doanh with tags , on July 27, 2008 by keronii

Việc Tập đoàn Dầu khí quyết định không thành lập Ngân hàng Hồng Việt đang đặt ra những khó khăn.

Kế hoạch dày công chuẩn bị thành lập Ngân hàng Hồng Việt đứng trước khả năng phải hủy bỏ. Phía sau khả năng này là những xáo trộn liên quan đến cổ đông. Với những cổ đông sáng lập, sẽ là những vấn đề lớn; với nhà đầu tư nhỏ, kết quả đầu tư đang khiến nhiều người rối bời.

Theo một số nguồn tin, Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) đã chính thức có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xin phép không thành lập Ngân hàng Hồng Việt. Nguyên do là theo chỉ đạo của Thủ tướng, Petro Vietnam không thể cùng lúc góp vốn tại các ngân hàng khác nhau. Hiện tập đoàn này đang nắm 9,5% vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu (GP Bank).

Đứng trước hai phương án

Như vậy Petro Vietnam chính thức xin rút khỏi dự án, các cổ đông còn lại đang đứng trước hai khả năng: Cùng rút vốn về và hủy dự án, hoặc tiếp tục triển khai không có sự tham gia của cổ đông này. Cả hai phương án đều có những khó khăn riêng.

Nếu ở khả năng thứ nhất, có vẻ đơn giản hơn khi các bên góp vốn chấp nhận bỏ phí công sức và thời gian dài chuẩn bị trước đó (từ năm 2006). Vấn đề còn lại là hoàn vốn cho nhà đầu tư, xử lý một số vấn đề liên quan đến nhân sự, cơ sở hạ tầng… đã chuẩn bị trước đó. Và với khả năng này, nhiều nhà đầu tư nhỏ cũng đang đứng trước những khó khăn và rủi ro nhất định.

Ở khả năng thứ hai, sẽ rất khó khăn khi Ngân hàng Hồng Việt (dưới đây gọi tắt là Hồng Việt) không còn Petro Vietnam. Không phải vì uy tín, thương hiệu hay tiềm lực vốn… của đối tác này trong hoạt động của ngân hàng tương lai, mà là việc xử lý “phần” của PetroVietnam trong quá trình chuẩn bị thành lập ngân hàng này.

Khi người viết liên hệ thông tin, lãnh đạo Petro Vietnam từ chối trao đổi về Hồng Việt, bởi họ đã quá đau đầu trong suốt thời gian qua về dự án này. Tuy nhiên, có thể thấy Petro Vietnam đã mất nhiều thời gian để chuẩn bị về nhiều mặt cho Hồng Việt; và nay, nếu các cổ đông còn lại tiếp tục triển khai, việc “định giá” công sức, đóng góp của đối tác dấu khí này là một vấn đề khó khăn, có thể nói là khá nhạy cảm, để giải quyết nhanh gọn và ổn thỏa.

Mặt khác, trong các cổ đông còn lại, có trường hợp đã lên tiếng xin rút vốn về; tính thống nhất để tiếp tục theo đuổi kế hoạch hiện chưa được khẳng định. Trường hợp có được sự thống nhất, một điều có thể khẳng định là Hồng Việt sẽ mất thêm nhiều thời gian hơn để ra đời, điều mà nhiều cổ đông lớn nhỏ đã sốt ruột chờ đợi hai năm qua. Mấu chốt vẫn là thời gian để xử lý các vấn đề liên quan đến Petro Vietnam và tiếp tục chờ giấy phép từ Ngân hàng Nhà nước.

Được biết, các cổ đông còn lại cũng đã có cuộc họp bàn về hai khả năng trên. Tuy nhiên, đại diện các bên đều từ chối đưa ra thông tin cũng như quan điểm giải quyết của dự án. Điều này càng khiến nhiều nhà đầu tư nhỏ rối bời.

Rủi ro và… chấp nhận

Ngay khi có thông tin Petro Vietnam xin rút khỏi dự án, nhiều nhà đầu tư nhỏ hoang mang bởi không biết kết quả cuối cùng của Hồng Việt sẽ đến đâu. Thông tin chính thống và cụ thể hạn chế càng đè nặng tâm lý nhiều người.

Câu hỏi chung trong các cuộc gọi tới phóng viên là số phận của những khoản đầu tư của họ trên thị trường tự do (OTC) sẽ như thế nào?

Trước câu hỏi trên, thông tin từ ông Lê Xuân Sơn, Trưởng ban trù bị Hồng Việt, cho biết: Với những trường hợp cán bộ nhân viên đã tham gia góp vốn, có thể họ lựa chọn tiếp tục tham gia đầu tư tái cấu trúc một ngân hàng mới với Petro Vietnam (hiện có thông tin tập đoàn này sẽ đầu tư vào Ngân hàng Hàng hải), hoặc rút lại vốn.

Còn với nhà đầu tư mua “qua tay” bên ngoài những suất đầu tư trên, tự thỏa thuận, Petro Vietnam không chứng nhận cho những chuyển nhượng đó, nên không có trách nhiệm giải quyết.

Theo một nhân viên tham gia góp vốn theo hệ thống của Petro Vietnam, việc hoàn vốn cũng khá đơn giản. Khó khăn hiện nay tập trung ở những giao dịch trên thị trường OTC; nhưng với trường hợp cổ phần của Hồng Việt, là ngân hàng chưa thành lập nên chủ yếu là giao dịch giữa những người thân quen và có thể thỏa thuận lại dễ dàng hơn.

“Mà trong tình thế của Hồng Việt hiện nay, cũng như giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường, nhận tiền có khi còn tốt hơn nhận cổ phiếu”, ông này bình luận thêm.

Trên thị trường OTC, hiện vẫn có nhiều thông tin rao bán cổ phần Hồng Việt với mức giá từ 13.000 – 15.000 đồng. Nhà đầu tư Đặng Thùy D. (0977288…) đang rao bán 5.000 quyền mua cổ phiếu cho biết những giao dịch này là bình thường, bởi chị được mua ưu đãi theo tiêu chuẩn công ty tham gia góp vốn vào ngân hàng này.

“Trường hợp không thành lập, công ty sẽ trả lại vốn góp với lãi suất ngân hàng. Như thế cũng là bình thường”, chị D. nói.

Tuy nhiên, với những nhà đầu tư đã mua qua tay nhiều người, với mức giá cao hơn mệnh giá, rủi ro đang hiện hữu. Trên thị trường OTC ngày 24/7 vẫn có giá rao bán tới 21.500 đồng, nhưng đây cũng là thời điểm “chốt” thông tin bán ra tại nhiều đầu mối giao dịch OTC.

Một nhà đầu tư khác cho rằng đã tính trước khả năng ngân hàng này không thành lập, nhưng đó là rủi ro thường thấy trên thị trường OTC và phải chấp nhận. “Khi giao dịch đã có giấy tờ chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, người bán sẽ đứng ra hoàn vốn và chắc chắn công ty sẽ hoàn trả lại giá gốc. Còn mất phần giá chênh lệch, đó là rủi ro”, nhà đầu tư này nói.

Rủi ro đó, từ cuối năm 2006 Ngân hàng Nhà nước cũng đã có những khuyến cáo, liên quan đến việc mua – bán quyền mua cổ phiếu các ngân hàng chưa thành lập. Bản thân nhà đầu tư cũng đã lường trước. Điều mà họ chờ đợi hiện nay là sự thuận lợi trong hoàn trả lại vốn, tránh được những tranh chấp pháp lý, hoặc có thể theo khả năng cùng PetroVietnam đầu tư vào một ngân hàng khác (đồng nghĩa với yêu cầu thoái vốn tại GP Bank) cũng như cần thông tin cụ thể về hướng xử lý dự án.

Trên thị trường tự do, giá quyền mua cổ phiếu Hồng Việt có thời điểm lên tới 18.000 đồng, hiện phổ biến từ 13.500 – 16.000 đồng, nhưng giao dịch thời gian gần đây gần như “đóng băng”.

Toàn cầu hóa trong ban giám đốc

Posted in business, Kinh doanh, The gioi with tags , on July 23, 2008 by keronii

Trong vòng gần 4 thập kỷ tồn tại, SAP được coi là một doanh nghiệp của người Đức.

Công ty công nghệ lớn nhất nước Đức này có hơn 15.000 nhân viên trong nước và là thành viên lớn nhất trong chỉ số DAX-30, hàn thử biểu chính của thị trường chứng khoán nước này. Các loại phần mềm do SAP sản xuất hiện được sử dụng cho hoạt động kế toán, sản xuất và hệ thống lưu kho của nhiều trong số những công ty lớn nhất thế giới.

sap.jpg


Xu hướng mới
Tuy nhiên, SAP đang toàn cầu hóa với tốc độ rất nhanh chóng.  Tháng 4 vừa qua, người Mỹ được nắm giữ vị trí cao nhất trong SAP là ông Bill McDermott đã tham gia vào ban giám đốc của hãng. Ngày 1/7, SAP đưa Jose Duarte, một người Bồ Đào Nha, vào vị trí người đứng đầu bộ phận bán hàng tại thị trường châu Âu. Và theo dự kiến, tới tháng 5/2009, một người Pháp gốc Đức có tên Leo Apotheker sẽ trở thành CEO của tập đoàn này.

Tuy nhiên, SAP còn đang dự định có những bước tiến táo bạo hơn. Vài năm nữa, SAP sẽ bổ nhiệm một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc vào ban giám đốc của hãng, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử công ty có một giám đốc không phải là người phương Tây. “Trong vòng 3 – 5 năm tới, chắc chắn sẽ có một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc trong ban giám đốc của chúng tôi”, CEO Henning Kagermann của SAP khẳng định.

Vị CEO này chưa “điểm danh” các ứng cử viên, tuy nhiên SAP đã có những ngôi sao đang nổi lên trong khu vực châu Á để lựa chọn. CEO của hãng tại Ấn Độ Rajan đã chuyển từ Mumbai tới Silicon Valley cách đây 1 năm. Một nhân vật nữa là Shang Ling Jui, Chủ tịch phụ trách bộ phận thí nghiệm của SAP tại Trung Quốc, một người gốc Đài Loan nhưng hiện mang quốc tịch Đức.

Nếu SAP chọn được một nhân vật phù hợp trong số những người này này để đưa vào ban giám đốc, doanh số của hãng tại các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng mạnh hơn nữa. Hiện Ấn Độ là thị trường tăng trưởng nhanh nhất của SAP, với doanh thu tăng gấp đôi hàng năm. Trong khi đó, doanh số của hãng tại thị trường Trung Quốc cũng tăng tới 50% mỗi năm.

Trong một kỷ nguyên mà hoạt động sản xuất, dịch vụ và nhất là doanh số tiêu thụ tại châu Á đang tăng mạnh, ngày càng có nhiều công ty Mỹ và châu Âu bắt đầu chính sách “hướng Đông”, nhìn về Ấn Độ, Trung Quốc và các thị trường đang nổi lên khác để tìm kiếm thế hệ tiếp theo trong ban lãnh đạo.

Tập đoàn ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ, vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực công nghiệp của Ấn Độ, mới đây đã bổ nhiệm một “đại gia” ngành thép gốc Ấn là tỷ phú Lakshmi Mittal vào một trong những ghế giám đốc của tập đoàn.

Tháng 5 vừa qua, Nokia – hãng điện thoại di động của Phần Lan hiện đang chiếm thị phần cao nhất ở Ấn Độ – cũng đưa Lalita Gupte, Chủ tịch của quỹ đầu tư mạo hiểm ICICI tại Mumbai, vào ban giám đốc. Năm ngoái, một người Ấn Độ khác là N.R. Narayana Murthy – người đồng sáng lập công ty công nghệ Infosys Technologies, tham gia ban giám đốc của hãng sản xuất hàng tiêu dùng đến từ Hà Lan Unilever.

Tập đoàn dược phẩm Novartis, hãng sản xuất hàng tiêu dùng Proter & Gamble (P&G)… là vài doanh nghiệp khác trong số những công ty Mỹ và châu Âu đã thuê người gốc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào ban giám đốc của họ.

“Chúng ta sẽ còn thấy nhiều trường hợp như vậy. Đây rõ ràng là một xu hướng”, ông Roger Kenny, Chủ tịch công ty tư vấn nhân sự Boardroom Consultants cho biết. Công ty của ông hiện đang tuyển dụng giám đốc ở Trung Quốc và Ấn Độ cho ít nhất hai công ty dược lớn của phương Tây.

Vai trò của giám đốc người châu Á
Giám đốc đến từ các thị trường đang nổi lên có thể giúp các công ty phương Tây xây dựng cầu nối chiến lược tới các quan chức doanh nghiệp và chính phủ, giải quyết những khó khăn về hành chính và luật pháp, đồng thời cân đo tác động của các quyết định được đưa ra từ các trụ sở ở phương Tây đối với các khách hàng ở New Dehli hay Thượng Hải.

Các thành viên người Ấn Độ và Trung Quốc trong ban giám đốc cũng có thể sát cánh với các thành viên còn lại trong việc ra quyết định đối với thị trường châu Á.

Đối với SAP, một thách thức là toàn cầu hóa bộ phận quan chức cao cấp của tập đoàn mà không làm mất đi bản sắc Đức. Trong khi mở rộng ra thị trường bên ngoài, hãng thận trọng không cắt giảm việc làm trong nước nhằm đảm bảo lòng trong trung thành của nhân viên và đảm bảo danh tiếng về chất lượng Đức.

“Chúng tôi là một công ty toàn cầu với gốc rễ ở Đức. Chúng tôi tự hào về gốc rễ này. Danh tiếng của cụm từ ‘Made in Germany’ vẫn tuyệt vời”, ông Kagerman nói.

Xét tới nhu cầu của tầng lớp người tiêu dùng trung lưu đang nổi lên ở Ấn Độ, Trung Quốc và Trung Đông đối với các sản phẩm laptop và điện thoại di động, cũng như nhu cầu của các quốc gia này trong việc hiện đại hóa hệ thống máy tính dùng trong các doanh nghiệp – các công ty công nghệ chính là những ứng cử viên rất tự nhiên trong việc đa dạng hóa quốc tịch trong ban giám đốc của họ.

Hãng máy tính HP đã đạt khoảng 70% doanh thu của họ từ thị trường nước ngoài; ở IBM, con số này là 2/3; còn ở Cisco, tỷ lệ này là 45%. “Nếu nhìn vào doanh thu của những công ty được coi là những doanh nghiệp Mỹ , có thể thấy, họ không còn là những công ty thuần Mỹ nữa”, giáo sư Vivek Wadhwa tại Đại học Duke và Trường Luật Havard nhận xét.

Nhà phân tích phần mềm Heather Bellini tại ngân hàng UBS cho rằng, không có gì là khó hiểu khi các công ty công nghệ muốn đưa vào ban giám đốc những thành viên hiểu biết rõ về các thị trường đang nổi lên. “Châu Á là một khu vực tăng trưởng khồng lồ”, bà nhận xét.

Tuy nhiên, xu hướng này tới nay vẫn tập trung trong lĩnh vực ngân hàng, sản xuất công nghiệp và hàng tiêu dùng. Ratan Tata, Chủ tịch tập đoàn Tata của Ấn Độ, năm 2007 đã gia nhập ban giám đốc của hãng nhôm Alcoa của Mỹ. Giám đốc người Thổ Nhĩ Kỳ Muhtar Kent mới đây đã trở thành CEO của Coca-Cola sau khi đã giữ một ghế giám đốc trong công ty này từ năm 2006. Mukesh Ambani, Chủ tịch công ty dầu lửa Reliance Industries, đồng thời là người giàu nhất Ấn Độ, có một ghế trong ban cố vấn của Citigroup, mặc dù ông không phải là một giám đốc.

Lý do là các công ty của Mỹ – quốc gia tập trung phần lớn ngành công nghệ của thế giới – được tiếp cận với một nguồn nhân lực giám đốc tiền năng lớn hơn ngay tại trong nước. Mặt khác, theo ông Charles Geoly, Giám đốc điều hành công ty săn đầu người Russell Reynolds Associates, một số tập đoàn của Mỹ như IBM, Coke và P&G phụ thuộc dựa nhiều vào thị trường Mỹ Latin hơn là châu Á.

Trong tất cả 500 công ty lớn nhất nước Mỹ năm 2006, chỉ có 81 ghế trong các ban giám đốc thuộc về người châu Á và Mỹ gốc Á.

Những hạn chế
Theo các nhà tuyển dụng, trên thực tế, việc tìm kiếm các ứng cử viên đủ kinh nghiệm, đủ khả năng để thường xuyên đi lại vòng quanh thế giới để tham dự các cuộc họp ban giám đốc và chịu đựng nổi “sự khó chịu” của các cổ đông phương Tây hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng.

“Có sự khác biệt lớn giữa những gì mà ban giám đốc muốn làm, những gì mà họ thực sự có thể làm được”, một nhà tuyển dụng cho biết.

Chuyện đi lại là một vấn đề lớn vì các giám đốc phải đi lại bằng máy bay ít nhất 6 lần một năm để tham dự các cuộc họp. Cũng theo các nhà tuyển dụng, ngoài ra, một số ứng cử viên còn lo ngại về việc tài sản cá nhân của họ có thể gặp nguy hiểm trong trường hợp các cổ đông phát đơn kiện họ.

Một khó khăn nữa trong việc tuyển dụng là tìm được những giám đốc từ các nền kinh tế đang nổi lên, nhưng lại có nền tảng phù hợp với một công ty phương Tây. Thường thì giám đốc trong một công ty thuộc chỉ số Standard & Poor’s 500 của thị trường chứng khoán Mỹ hiện ở độ tuổi khoảng 62 tuổi. Điều này có nghĩa là, nếu họ có kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm đó thường là thị trường châu Âu.

Trong khi đó, các giám đốc có kinh nghiệm ở thị trường Ấn Độ và Trung Quốc hiện thường ở thời kỳ giữa trong sự nghiệp của họ, và họ chưa sẵn sàng với sự biến chuyển nhanh chóng là nhảy vào một ghế trong ban giám đốc của một công ty nào đó.

Để giải quyết vấn đề này, các công ty có thể tuyển dụng giám đốc là chuyên gia về thị trường châu Á, nhứng lại không phải là người bản xứ.  Ông John Thornton , nguyên chủ tịch của Goldman Sachs, hiện đang dạy tại Đại học Tsinghua ở Bắc Kinh, là một ví dụ. Ông là một người rất hiểu biết về hoạt động kinh doanh ở châu Á và hiện đang ở trong ban giám đốc của các tập đoàn lớn như Intel, Ford và News Corp.