Archive for the Technology Category

Web ‘xịn’ cũng nguy hiểm như web ‘đen’

Posted in Kinh doanh, Ngạc nhiên thú vị, Technology on May 2, 2008 by keronii

Trước đây, người dùng thường trở thành nạn nhân của hacker khi truy cập vào trang web không lành mạnh. Nhưng hiện nay, kẻ xấu lợi dụng cả những site chính thống như một phương tiện phát tán virus hoặc làm bàn đạp tấn công.

Môi trường web đã trở thành trung tâm của các hoạt động tấn công mạng và người dùng trực tuyến ngày càng dễ bị lây nhiễm mã độc khi lướt web hằng ngày là kết luận vừa được công bố trong báo cáo an ninh mạng mới nhất của hãng Symantec. Những phân tích này dựa trên các số liệu thu thập được từ hàng triệu bộ cảm biến mạng và được nghiên cứu trực tiếp cùng những đánh giá từ việc theo dõi phương thức liên lạc của hacker. Đây là cái nhìn tổng quan về hiện trạng an ninh Internet trên bình diện toàn cầu.

Nửa cuối năm ngoái, có tới trên 11.000 lỗ hổng bảo mật về đoạn mã liên kết chéo giữa các trang web (cross-site scripting vulnerabilities), một lỗi thường thấy trong các website cá nhân.

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 473 trường hợp (xấp xỉ 4%) trong số đó được quản trị mạng của chính trang web bị lây nhiễm vá lỗi tức thời. Điều này chứng tỏ hacker có rất nhiều cơ hội để thực hiện các cuộc tấn công của mình. Trong khi đó, lừa đảo trực tuyến (phishing) vẫn là vấn đề nhức nhối. Symantec phát hiện gần 88.000 máy chủ “đen” có chứa một hoặc nhiều trang web lừa đảo và có khoảng 80% các thương hiệu bị tấn công giả mạo thuộc lĩnh vực tài chính. Những kẻ tấn công thường tìm kiếm thông tin cá nhân quan trọng của người dùng cuối để sử dụng gian lận cho mục đích tài chính, và ít tập trung hơn vào máy tính hay thiết bị chứa thông tin đó.

Các chuyên gia của Symantec nhận định kẻ tấn công có xu hướng lợi dụng nền kinh tế ngầm đang trưởng thành để mua, bán và giao dịch những thông tin đánh cắp được. Môi trường ảo này cũng có những điểm chung giống như các nền kinh tế truyền thống. Cụ thể là cung và cầu thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Thông tin về thẻ tín dụng trở nên đầy rẫy, chiếm khoảng 13% trên tổng số hàng hóa được rao bán (giảm 22% so với giai đoạn trước và được bán với giá chỉ 0,4 USD). Một thẻ tín dụng trong thị trường ngầm này được định giá bởi yếu tố khu vực của ngân hàng phát hành thẻ. Ví dụ, thẻ tín dụng từ Liên minh châu Âu giá trị cao hơn thẻ từ Mỹ. Các giấy uỷ nhiệm tài khoản ngân hàng trở thành một trong những thứ được rao bán thường xuyên nhất, chiếm 22% các mặt hàng và chỉ khoảng 10 USD.

Lưu trữ Website

Posted in Kinh doanh, Technology on April 29, 2008 by keronii

Sau khi đã hoàn tất thiết kế web, đăng ký tên miền, thì công việc kế tiếp phải nghĩ đến là lưu trữ web hay còn gọi là web hosting.WEB HOSTING LÀ GÌ?

Web Hosting là không gian trên máy chủ có cài đặt các dịch vụ Internet như world wide web (www), truyền file(FTP), Mail…, nói tóm lại là nơi chứa website của doanh nghiệp (DN). Web Hosting đồng thời cũng là nơi diễn ra tất cả các hoạt động giao dịch, trao đổi thông tin giữa website với người sử dụng Internet và hỗ trợ các phần mềm Internet hoạt động.

DN có thể chọn thuê web hosting của nhà cung cấp dịch vụ (ISP) có dung lượng phù hợp với dung lượng website. Với bất kỳ hình thức nào (tự trang bị máy chủ hay thuê máy chủ) thì DN cũng nên có các hiểu biết cần thiết về Web Hosting và máy chủ Web.

Các yêu cầu cần thiết của Web Hosting

  1. Web Hosting phải có một dung lượng đĩa đủ lớn (tính theo MBytes) để lưu giữ đầy đủ dữ liệu, hình ảnh và các trình ứng dụng của website.
  2. Cho phép cập nhật website bằng giao thức FTP vào bất cứ thời điểm nào
  3. Phải có băng thông (Bandwidth) đủ lớn để phục vụ các hoạt động giao dịch, trao đổi thông tin của website diễn ra nhanh chóng.
  4. Hỗ trợ các công cụ lập trình trên Internet và các công cụ viết sẵn để phục vụ các hoạt động giao dịch trên Website như gửi mail, upload, download qua trang Web.
  5. Hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ E-mail: tạo, sửa, xóa các tài khoản (account) email với tính năng POP3 E-mail, E-mail Forwarding, Webmail.
  6. Hỗ trợ các công cụ thống kê người dùng truy cập trang web.
  7. Cho phép chủ động tạo các subdomain.

CÁC LOẠI WEB HOSTING

Linux Hosting
Linux là hệ thống server mà hầu hết các nhà cung cấp host Việt Nam đang sử dụng. Khi host trên server này, người soạn web phải có kiến thức viết web bằng HTML, soạn từng trang hoặc soạn script CGI rất cực nhọc và phải upload bằng FTP. Nếu có sửa lại thư mục hoặc mất một trang nào đó thì phải kiểm tra lại toàn bộ các đường dẫn đến trang đó. Các tiện ích như counter đếm số người truy cập, form nhập liệu cũng phải viết bằng ngôn ngữ CGI và đều phải viết riêng.

Window Hosting
Windows Server hiện đang là “mốt thời thượng” vì Microsoft cố gắng hỗ trợ hoàn toàn và dễ dàng cho người dùng mà ngay cả người không chuyên nghiệp vẫn có thể tạo ra trang web chuyên nghiệp. Một trong những tính năng của Server windows là có hỗ trợ Frontpage extension.

Chọn máy chủ web (server)

Hiệu suất
Hiệu suất của một server được đánh giá qua khả năng xử lý số lượng người truy cập cùng lúc, xử lý càng nhiều đồng nghĩa với server có hiệu suất càng lớn. Hiệu suất của một server phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như số lượng bộ vi xử lý (VXL), loại VXL, bộ nhớ và dung lượng đĩa cứng.

Vai trò của VXL
Một máy tính văn phòng thường có một VXL, gọi tắt là CPU. Trong khi đó một web server thường có từ 2 đến 4 VXL, càng nhiều VXL, website đáp ứng yêu cầu càng nhanh.

Tốc độ VXL được tính bằng hertz (Hz), số Hz càng cao, VXL chạy càng nhanh..

Vai trò của bộ nhớ
Một máy chủ phải có khả năng xử lý nhiều tác vụ cùng một lúc. Có thể vừa trả lời yêu cầu người dùng cuối, truy vấn dữ liệu và vừa chạy chương trình. Mỗi một tác vụ server cần một phần bộ nhớ, càng có nhiều bộ nhớ thì máy chủ của DN càng có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ đồng thời.

Dung lượng nhớ cần thiết cho một máy chủ web phải có ít nhất một 1Gigabyte, đối với những loại hình giải trí thì cần lớn hơn.

Vai trò của đĩa cứng
Kích thước: quyết định khả năng chứa dữ liệu, không ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu suất. Web server cần không gian để chứa phần mềm, mã nguồn, hình ảnh, âm thanh.

Độ tin cậy
Một khi web server bị mất dữ liệu, mất nguồn… người dùng không thể truy cập vào website của DN. Điều đó không chỉ làm mất thời gian của DN để khắc phục mà có thể mất thu nhập (đối với web bán hàng qua mạng), nếu thường xuyên có thể dẫn đến mất tin cậy của người dùng. Hai yếu tố ảnh hưởng đến tính liên tục của máy chủ web là dự phòng và nguồn điện.

Dự phòng dữ liệu: Công nghệ RAID (RAID-0, RAID-1, RAID-3, RAID-5) sử dụng nhiều ổ cứng kết hợp lại trong một máy chủ và dữ liệu được lưu ở nhiều nơi khác nhau, giải quyết vấn đề dự phòng rất hiệu quả. Khi một ổ cứng bị hỏng, dùng RAID máy chủ web của DN vẫn có thể hoạt động và đủ thời gian để thay ổ cứng đã hỏng hóc.Cần sử dụng công nghệ RAID cứng (thiết lập bởi một thiết bị, khác với thiết lập RAID bởi phần mềm) và có khả năng mở rộng.

Dự phòng nguồn điện: mất điện đột ngột có khả năng làm mất mát dữ liệu, HĐH bị hỏng, hệ thống ngưng hoạt động. Với loại hình thuê chỗ đặt máy chủ, DN cần đặt vấn đề với ISP phải đảm bảo nguồn điện 24/24.

Lựa chọn mua hay thuê máy chủ đều cần phải đảm bảo các tiêu chí:

  • Máy chủ Hosting Web kết nối Internet ổn định
  • Giải pháp bảo mật dữ liệu tối ưu
  • Chi phí thấp
  • Có thể tự thay đổi và cập nhật nội dung trang Web
  • Hệ thống dự phòng và hỗ trợ kỹ thuật 24/24 giờ.
  • Có nhân viên kỹ thuật am hiểu hệ thống.

30 giây là thời gian tối đa để mỗi website giữ khách

Posted in Ngạc nhiên thú vị, Technology on April 29, 2008 by keronii

Có tới 89,5% những người tham gia một khảo sát gần đây khẳng định họ sẽ chuyển sang một gian hàng trực tuyến khác nếu website thương mại mà họ yêu thích hoạt động quá trì trệ và mất tới hơn nửa phút để tải thông tin.

Mike Tobin, Giám đốc điều hành TelecityRedbus, công ty chuyên về dịch vụ hosting tại Anh và là đơn vị thực hiện nghiên cứu trên, khẳng định Internet đã mang đến cho người tiêu dùng “nhiều lý do và cơ hội để mua sắm hơn”.

Tuy nhiên, Tobin cho rằng: “Lòng trung thành của người tiêu dùng đối với một nhãn hiệu trực tuyến rất mong manh. Bạn phải hoạt động lanh lẹ như chơi bóng thì may ra mới có thể lấy được niềm tin của khách hàng“.

85% trong số hơn 2.000 người được phỏng vấn đều nói thời gian “chết” của website sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của một doanh nghiệp.

“Trang web gặp trục trặc trong 10 phút giờ không còn là vấn đề ‘ngắn hạn’, nhất thời nữa. Thời gian tải quá lâu cũng khiến các công ty mất đi một lượng doanh thu lớn từ những người tiêu dùng khó tính và thiếu kiên nhẫn”, Tobin nhận xét.

TelecityRedbus đã thống kê ba lý do hàng đầu khiến khách hàng quay sang website của đối thủ là dịch vụ hỗ trợ khách hàng tồi (70,8%), thời gian tải chậm (68,9%) và không chuyển hàng theo đúng đơn đặt hàng (68,5%).

Bán hàng trực tuyến “nằm ngoài” suy thoái kinh tế

Posted in marketing on April 22, 2008 by keronii

Ngân sách mà người dùng dành cho việc sắm sửa, shopping trên mạng sẽ tăng tới 17% trong năm nay, bất chấp nền kinh tế đang có dấu hiệu bất ổn.

mp3_ypp240308.jpg

Doanh thu từ bán lẻ trực tuyến (không tính đặt vé máy bay và tour du lịch) được dự đoán sẽ tăng từ mức 174,5 tỷ USD năm ngoái lên 204 tỷ USD vào cuối năm 2008. Các lĩnh vực phát đạt nhất bao gồm quần áo thời trang, máy tính và ô tô, hãng nghiên cứu Forrester Research cho biết.

Tuy tốc độ tăng trưởng 17% thấp hơn so với tỷ lệ 21% hồi năm 2007, song theo Forrester, đây là hệ quả của việc thị trường thương mại điện tử đã “chín muồi” chứ không phải do tác động tiêu cực của nền kinh tế suy thoái.

“Rõ ràng, thương mại điện tử đang là điểm sáng trong lĩnh vực bán lẻ”, Giám đốc điều hành Scott Silverman của Shop.org – đơn vị phối hợp với Forrester tiến hành nghiên cứu- bình luận.

Triển vọng sáng sủa của bán hàng trực tuyến hoàn toàn tương phản với dự đoán dành cho các cửa hàng bán lẻ truyền thống.

Tốc độ tăng trưởng chậm lại, doanh thu giảm, thậm chí nhiều cửa hàng đã phải đóng cửa do người dùng không thích chi tiền trong bối cảnh giá xăng và thực phẩm leo thang, giá nhà giảm và tỷ lệ thất nghiệp cao.

Vì tiện hay vì giá?
Chỉ có hai ngoại lệ là các cửa hàng bán sỉ và bán hàng giảm giá – do khách hàng muốn mua được đồ với giá rẻ“, ông Silverman cho biết. Theo dự đoán của Forrester, may mắn lắm thì tăng trưởng của các cửa hàng bán lẻ truyền thống “không giảm” so với năm ngoái.

“Hai đối tượng khách hàng chủ chốt của thương mại điện tử là: những người “nhạy cảm về giá”, luôn muốn mua đồ qua mạng vì giá hời hơn, được nhiều khuyến mãi hơn. Và loại thứ hai là những người thích mua hàng trực tuyến do tính tiện lợi và phong phú của dịch vụ cũng như sản phẩm cung cấp”, Forrester cho biết.

Mặc dù vậy, đối tượng khách hàng thứ nhất sẽ cảm thấy khá thất vọng trong năm 2008, do đa số các trang web thương mại điện tử sẽ không áp dụng nhiều chương trình khuyến mại vào năm nay. Chỉ có 35% website cho biết họ “sẽ tập trung cho hoạt động này” trong thời gian tới mà thôi.

Khi quảng cáo mâu thuẫn với nhãn hiệu

Posted in marketing on April 22, 2008 by keronii

Đó là một sai lầm thường gặp của các nhà quảng cáo. Họ thường đặt quá nhiều kỳ vọng với các ý tưởng quảng cáo độc đáo mới nảy sinh và trói chặt nó vào các chiến lược và hình ảnh nhãn hiệu, không quan tâm tới việc nó có ăn khớp với nhau hay không.

Không thể phủ nhận một thực tế rằng sự bùng nổ của các hoạt động tiếp thị trên các phương tiện truyền thông đang thể hiện những kết quả theo tỷ lệ nghịch. Đây không chỉ là nhận định riêng của Steve McKee, chủ tịch hãng quảng cáo McKee Wallwork Cleveland Advertising chuyên về tư vấn quảng cáo cho các công ty vừa và nhỏ có ngân quỹ quảng cáo không nhiều, mà còn là nhận định của nhiều nhà phân tích tiếp thị khác.

Theo McKee, chi phí quảng cáo của các công ty đang ngày một phình to, chỉ có điều đi cùng với đó là những kết quả không tương thích. Ngân quỹ tiếp thị khổng lồ, song các CEO hay các vị chủ tịch công ty sẽ không có gì phải bận tâm nếu tiền có thể giải quyết tốt vấn đề.

Đáng buồn là nhiều công ty đã bỏ ra cả đống tiền cho quảng cáo nhưng rồi kết quả thu về vẫn là con số không. Rất đơn giản là bởi họ đã thiếu sự nghiên cứu cẩn thận và tỷ mỷ để có được sự tương thích giữa những hành động quảng cáo nhất thời và chiến lược nhãn hiệu lâu dài.

nhanhieu.gif

Vào năm 2004, Oprah Winfrey đã thực sự gây bất ngờ khi bà trao tặng rất nhiều chiếc xe ôtô mới cho các khán giả xem chương trình của bà. Gần 300 người đã thực sự vui sướng khi nhận được phần quà giá trị này.

Phần thưởng này rõ ràng là một chiếc lông vũ nổi bật trên chiếc mũ của Oprah và được xem là một nhân tố xây dựng nhãn hiệu tuyệt vời. Song có bao nhiêu người dân Mỹ biết đến hãng ôtô nào đứng đằng sau chiến dịch xúc tiến này?

Rất có thể là không nhiều. Nếu ai đó nói là Pontiac, đấy thực sự là điều tốt đẹp cho General Motor (GM). Và thậm chí người dân Mỹ không trả lời được, sự chú ý của công chúng tới những chiếc xe được GM biện hộ cho những khoản đầu tư lớn của mình. Mặc dù vậy, Steve McKee không cho rằng chiến dịch tiếp thị mà GM liên kết với Oprah Winfrey sẽ xây dựng những giá trị dài hạn cho nhãn hiệu Pontiac.

Steve McKee đang nói tới những lần mà một ý tưởng nào đó quá hấp dẫn hay khiến bạn khát khao thực hiện ngay; những lần mà công ty chỉ muốn quên hết mọi thứ và nhảy sang một hoạt động mới; và những lần khi một nhân viên bán hàng đến phòng giám đốc với một ý tưởng lớn và thuyết phục giám đốc thông qua ngay lập tức.

Trong tất cả các trường hợp trên, sự quyến rũ phải hành động theo đó sẽ có sức mạnh rất lớn. Nhưng nếu hành động tiếp thị này không thể giúp bạn tạo ra sự khác biệt hay những điểm thích hợp về nhãn hiệu của bạn, nó sẽ trở nên vô nghĩa mà thôi.

Những quảng cáo khiến trẻ em phát khóc
Hầu như không một nhà tiếp thị nào thoát khỏi “chứng bệnh này”. Vào năm 2002, hãng điện thoại Vodaphone của Anh đã tài trợ cho hai người đàn ông trần như nhộng chạy vào sân làm ngắt quãng một trận đấu rugby tại Sydney, Australia.

Hai người đàn ông ngốc nghếch kia có lôi kéo được nhiều sự chú ý? Chắc chắn là có, nhưng đấy là những hình ảnh không mấy đẹp đẽ và có phần tiêu cực. Liệu điều này góp phần nâng cao hình ảnh nhãn hiệu Vodafone ? Câu trả lời sẽ thiên về từ “Không” nhiều hơn.

Hãng bánh sandwich Quizno đã gặp phải sự chế giễu của công chúng trong vài năm trở lại đây kể từ sau các chương trình quảng cáo trên TV với bài hát “ Spongmonkeys” . Quảng cáo của Quizno đã gây được sự chú ý nhưng không phải là những sự chú ý đầy thiện cảm mà có phần ngược lại khi quảng cáo bánh sandwichs có sự suất hiện của một loài gặm nhấm. Đây không phải là một chiến lược khôn ngoan.

Một tờ báo địa phương Quizno đóng trụ sở chính đã trích lời của một chủ cửa hàng nói rằng công việc kinh doanh của bà đã 20% tới 30% sau khi quảng cáo này được trình chiếu. Thậm chí, theo lời kể của chủ cửa hàng thì có một phụ nữ lớn tuổi đã đến cửa hàng và chỉ trích quảng cáo này khiến cháu của bà sở đến phát khóc.

Vậy đâu là lý do khiến Quizno hành động như như vậy? Chắc hẳn có một sự thôi thúc nào đó mà theo giải thích của Quizno đó là từ việc bắt chước giới nghệ sĩ Anh, những người đã sử dụng vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã để tạo dựng cho mình vẻ đẹp đặc biệt. Chỉ có điều Quizno chưa quan tâm tới hình ảnh nhãn hiệu.

Kết quả đã thấy rõ. Thậm chí, một vài người trên YouTube đã tổng kết lại thành một câu nói rất hay: “Càng yêu quảng cáo này bao nhiêu (Nó … thật vui nhộn), tôi càng không muốn ăn bánh Quizno bấy nhiêu”.

Các hành động tiếp thị của bạn có được xây dựng hướng tới hình ảnh nhãn hiệu? Hình ảnh nhãn hiệu, yếu tố quyết định thành công của công ty, dường như chưa được quan tâm một cách đầy đủ, dường như chưa trở thành quan trọng nhất cần chú ý nghiên cứu khi mà phần nào các quảng cáo của bạn không đánh giá đúng mức hình ảnh nhãn hiệu.

Tiếp thị không đơn thuần là việc tạo dựng những ấn tượng và lôi kéo sự chú ý của mọi người. Để thực sự hiệu quả, hình ảnh nhãn hiệu của bạn tạo ra cần thực sự thích hợp với các hoàn cảnh xung quanh nó. Sự bố trí, sắp đặt của sản phẩm này trong một hoàn cảnh nào đó có thể thích hợp, nhưng các sản phẩm khác thì chưa chắc như thế.

Khi bạn đối mặt với một cơ hội hành động tiếp thị mới, không quan tâm tới sự quyến rũ của nó ở mức độ nào, các cơ hội tiếp thị này cần được thực thi thông qua bộ lọc của chiến lược nhãn hiệu tổng thể.

Nếu có sự nhất quán giữa hành động tiếp thị mới và chiến lược nhãn hiệu nói chung, đây sẽ thực là cơ hội tuyệt vời để nâng cao hình ảnh nhãn hiệu và sức hút của công chúng. Còn bằng không, bạn nên tìm kiếm một phương hướng khác để sử dụng tốt hơn đồng tiền của mình.

Trong tiếp thị, có được sự chú ý chỉ là một mặt của vấn đề. Có được sự chú ý và mối quan tâm thích hợp với thực sự có ý nghĩa.

Như Hans Straberg, giám đốc điều hành của Electrolux, đã từng nói: “Thật rất khó để lôi kéo mọi người về phía mình chỉ vì các sản phẩm của bạn đã được biết tới”, hãy đặt chiến lược lên đầu tiên, và chắc chắn rằng mỗi chiến thuật, hành động bạn theo đuổi đều phục vụ cho bức tranh lớn.

Bạn có thể làm thất vọng một vài nhân viên bán hàng hăng hái, nhưng nhãn hiệu của bạn sẽ yêu bạn hơn vì điều này.

Alexa bỏ Toolbar xếp hạng website

Posted in Kinh doanh, Technology on April 20, 2008 by keronii

Alexa vừa nâng cấp và cải tổ toàn diện hệ thống xếp hạng website đã hơn 10 năm tuối của hãng. Thay đối đáng chú ý nhất là từ nay Alexa sẽ không còn dựa chủ yếu vào dữ liệu thu thập từ thanh công cụ Alexa Toolbar để đánh giá xếp hạng website nữa.

alexa_graphic.jpg

Thay vào đó giờ đây Alex sẽ tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đánh giá chính xác nhất về số liệu truy cập và xếp hạng của từng trang web.

Thay đổi của Alexa có giúp đánh giá tốt hơn về website Việt?
Có thể thấy việc Alexa tiến hành cải tổ là một hệ quả tất yếu cho những phàn nàn về độ chính xác của bảng xếp hạng website của hãng này. Dữ liệu hiện đang hiển thị trên Alexa là dữ liệu về các website trong vòng 9 tháng gần đây. Các dữ liệu này cũng sẽ được sử dụng để tính toán xếp hạng website theo cơ chế mới.

“Sở thích và thói quen duyệt web giữa người dùng Alexa Toolbar và người không dùng thanh công cụ là hoàn toàn khác biệt. Nhưng khi xếp hạng website, Alexa lại không tính đến sự khác biệt đó. Chính vì thế mà chúng tôi đã phải nỗ lực để xây dựng một hệ thống xếp hạng mới với mục tiêu phản ảnh tốt hơn sở thích và thói quen của tất cả người dùng Internet.”

Một nguyên nhân khác khiến Alexa phải thay đổi chính là sự xuất hiện của một số “đối thủ cạnh tranh” như Compete hay Quantcast. Cả hai hãng này đều đánh giá xếp hạng website dựa vào nhiều nguồn dữ liệu khác nhau nên có độ chính xác hơn hẳn Alexa.

Giới phân tích cho rằng đã qua rồi cái thời Alexa đứng ở vị trí thống trị như trong giai đoạn cuối thập kỷ 90, bởi khi đó Alexa là dịch vụ xếp hạng website duy nhất. Ngoài Alexa ra nếu người dùng muốn có những dữ liệu tương tự họ sẽ phải bỏ tiền ra mua từ các hãng như Nielsen, comScore hay HitWise.

Giới phân tích đánh giá lẽ ra Alexa phải thực hiện những thay đổi trên từ lâu rồi chứ không nên đợi đến bây giờ. Song dù muộn màng nhưng nó vẫn là một sự thay đổi cần thiết.

Website Việt sẽ mất vị trí cao trên Alexa?
Có thể thấy có rất nhiều website Việt xếp ở những vị trí chót vót trên bảng xếp hạng website có số lượng người truy cập nhiều nhất thế giới của Alexa. Không ít các chuyên gia đã ngạc nhiên khi thấy số lượng người dùng Internet biết tiếng Việt không thể cao hơn số người biết tiếng Anh mà không ít website Việt còn đứng ở vị trí cao hơn nhiều website tiếng Anh nổi tiếng trên thế giới.

Lời giải thích duy nhất cho điều này là những dịch vụ “lừa gạt” nhằm giúp website tăng thứ hạng cao chỉ trong một thời gian ngắn. Bởi ở Việt Nam, việc sử dụng xếp hạng trên Alexa để quảng cáo đánh bóng website từ lâu đã trở thành “một thói quen”. Alexa đã trở thành một công cụ để website Việt minh chứng mức độ phổ biến của mình.

Như vậy, việc Alexa thay đổi cơ chế xếp hạng có thể sẽ là “một thảm họa” đối với website Việt. Nhưng nó cũng là cơ hội giúp cho người dùng chúng ta có được một đánh giá tốt hơn về website Việt và có cơ sở để không còn tin vào xếp hạng trước đây của Alexa nữa.

University homepage from Web standard and usability perspectives

Posted in English, Giáo dục & Du học, Technology on February 25, 2008 by keronii

Universities websites are redesigned to produce better marketing performance. That is a a good news for Web Standard and Usability experience. The homepage is the first impression of the entire protal. Therefore, the redesigning of the homepage is among the top priority of site redesigning. This article lists some significant web standards, usability and marketing efforts about the homepage of some top-tier universities in the world and Asian – Pacific regions.

Criteria

  • Homepages are assessed based on structural content (XHTML) and layout (CSS).
  • Table-based or table-less structure, which are critical to the future redesigning or mantainace of the portal.
  • Usability basis (search, download time, navigation structure, text size etc..)
  • Information Architecture (audience-based and topic-based, primary navigation)
  • Marketing effort (media syndication, use of metadata, their Google PageRank, the use of Google Web Statistics – Google Analytics)
  • How Asian institutions maintain their dual-language portal.

Selection

With a strong belief that topt-tier universities will perform better in their Website, I searched at The Higher Education Supplement 2006. Some pretigious names, like Cambridge, Harvard, Oxford, Imperial College Lodon, MIT, Stanford, Princeton and Caltech Institute of Technology were picked up. This article is mainly for Australian audience. So Australian Group 8 universities were in the selection. Asian big names, National University of Singapore (NUS), Peking University (PKU) and Tokyo University (TU), were analysed. Interestingly, they not only are in the top-tier list of THES but also maitain a dual-language portal. Over the last decade universities have been progressively offering courses in an online learning format in the hope of attracting both “mature learners” and providing more flexible course offerings. Hence, online distance learning has spawned the development of online universities such as the US based Phoenix University.

Reputation of some business school is more extensive than those of their super universities. So some famous names of business schools are selected in the Financial 2007 MBA rankings. There were some apparent overlaps in this selection such as: the Australian Graduate School of Management (AGSM) is a school of the University of New South Wales. The Melbourne Business School is a joint venture and one of the stakeholders is the University of Melbourne. The Harvard Business School is a faculty of Harvard University and the Stanford Graduate School of Business is a faculty of Stanford University. However in practice, these business schools operate largely independently of their parent organisation.

Assessed institutions are briefly illustrated in my Editgrid spreadsheet.

Results

1. Web Standard and table-less design

There are quite a few institutions qualified both structural content (often XHTML 1.0 Transitional) and layout (CSS).

Australia: The University of Adelaide, The University of Melbourne, Monash University and The University of Western Australia.

Britain: Cambridge and Oxford

The US: Stanford University

Oxford homepages validates as XHTML 1.0 Strict but it is a entire-table layout.

Monash University homepare has a table-free layout and provides an ability to resize the text size directly from the page, not from the the browser (tool). The University of Queensland even though does not validate as XHTML 1.0 Strict, but it enables assessibility for mobile users.

Common mistakes, for which institutions fail to validate XHTML 1.0, include:

Suprisingly, Harvard homepage does not have a DOCTYPE (Document Type Declaration). The recognition and adoption of Wed Standards are obviously yet uneven across institutions.

There are no business schools that are compliant with both XHTML 1.0 and CSS mark-up.

2. Usability

Because the research could not conduct an effective environment to conduct a usability test with listed institutions, we selected some usability metrics from Nielsen and Tahir (2002) to assess the usability of their homepages. Some key metrics are: download time, search, sitemap, about & contact info, privacy policy, typeface (San Serif vs Serif) andresizeable font size(*). The maximum posible usability score is 30 . The usability scores of universities are listed in table (1).

Total
PekingUniversity 17
National University of Singapore 22
University of California, Berkeley 23
the University of Adelaide 23
Cambridge University 24
Melbourne University 24
Harvard University 25
Phoenix University 25
The Australia National University 26
The University of Western Australia 26
the University of Queensland 26
Oxford University 27
Imperial College London 27
Monash University 27
Tokyo University 27
Massachusetts Institute of Technology 28
University of Sydney 28
Stanford 28
University of New South Wales 29
Princeton University 29
California Institute of Technology 30
Average 25.8

There are six universities achieving very high scores (28 to 30), 4 from the U.S and 2 from Australia. Peking University gets the lowest score of 17. The average usability score of a university homepages is 25.8. Business schools’ usability is slightly lower than that of institutions (table 2).

Total
ColumbiaBusinessSchool 19
New York University: Stern 19
Insead 21
University of Chicago GSB 21
The Wharton Business School 24
Melbourne Business School 27
Australian Graduate School of Management 28
Stanford Graduate School of Business 28
London Business School 28
Harvard Business School 30
Average 24.5

4 business schools score very high (28 to 30) on the usability rating scale, 2 from the U.S.A, one from England and one from Australia. The Stern business school, in the U.S.A. gets the lowest score of 19. In term of high usability:

These figures suggest that American institutions put more effort in usability when compared with institutions from other parts of the world.

What can be learnt from institutions in the bottom of usability assessments? There are a few usability concerns in the lowest-ranking institutions:

  • No search utility (Colombia Business School and New York University: Stern) or the search box is too small (less than 10 characters).
  • No or less visible links, “Contact” and “Privacy Policy” (PKU).
  • Small text size, less than 12 pixels .
  • Broken or invalid links.

3. Information architecture

3.1 Topic-based and Audience-based

There are two main classifications for Web-site top-level structures. They are the audience-based or topic-based structure:

  • Information for (audience-based): Prospective students, Current Students, Faculty, Staff and Alumni and Family etc.
  • Information about (topic-based): the University, Courses, Library, Teaching and Learning, Research and Services etc.

Back to the study, 19 of the 31 institutions incorporate elements of both a both topic-based and audience-based structure. It is the illustration of the so-called “current industry standard” in information architecture of the university homepages (Ruwoldt & Spencer, 2005). All Australian and British universities adopt this trend. In addition, most Australian-based institutions add ‘International Students’ as a category in the primary navigation or sub-level, reflecting their internationalised marketing purpose.

3.2 Primary navigation

Left-hand rail, links across the top ,i.e. University of New South Wales or Harvard, and categories cascading in the middle of the page, aka or Yahoo-style, such as University of Berkeley are dominant in primary navigation structures. 16 of the 31 institutionsuse these navigation structure although they are space-consuming.

Visual-effect menus using JavaScript, drop-down and fly-out menus , such as University of Tokyo and are also popular. There are total of 11 institutions using this approach despite debates about their usability shortcomings. The key benefit of those approaches is to save the screen real estate for other important information. The disadvantage is that visitors cannot see the sub-categories of a main category unless they “mouse” over the category.

A few institutions mixed two approaches:

Types of primary navigation in universities’ homepage are varied because they need to organise a bundle of information (various faculties, departments and programs) in a limited space. In business schools, the trend is contradict. there is plenty estate for present information. Hence, JavaScript drop-down or flyout menus are not applicable for them. In fact, most business schools use solely left-hand rail, links on tops or Yahoo-style menu or their combinations in the homepages. Only London Business School and Melbourne Business School use Drop-down menu.

4. Marketing effectiveness

4.1. Media Syndication

How many news or events appear in the homepage? Statistics in this study are shown in table 3

Discipline Mean number – news items Mean number – events items
Business school 7.8 2.4
University 2.4 0.96
Overall 3.76 1.39

In business schools, there are usually up to 8 news and 2-3 events because they have relatively more space. For a university, there are typically two news items and one event. Those numbers are much less than those in a business school because the university needs to save the screen real estate for other items. Summing up, current practice is to have 3-4 news items and 1-2 events appearing on an institution’s homepage. In addition such dynamic media items such as news, events or announcements should be syndicated using RSS. 30 out of 31 institutions surveyed used RSS for syndication.

At present, the use of podcasts by institutions is mostly for teaching and learning activities. In the near future it is highly likely that podcasts will be widely used for media and marketing events and public relations (PR) activities. Indeed some universities have started to use podcasts to promote their branding. For example, Sydney University has started to use podcasts to publish their public lectures under the link ‘Listen to our public lecturers’. Likewise, the Australian National University uses podcasts to publish its public talks.

4.2 Metadata

What is the difference between the University of Sydney and Sydney University? Most people will think there is little difference. But to the search bots (i.e. Google), this variation is significant. The following figure (figure 1) presents the number of search results with the keyword: Sydney University.

Sydney University

Figure 1: Google search results with the keyword: Sydney University

And figure 2 illustrates the number of results with the keyword: the University of Sydney.

the University of Sydney.

Figure 2: Google search results with the keyword: the University of Sydney.

While the conventional name of the university is “the University of Sydney” the number of search results with this keyword is 11% less than a less formal name “Sydney University”. Examining the HTML code of the university’s homepage, there is something inconsistent in the way it names itself (figure 3).

metadata of HTML code of Sydney University Homepage

Figure 3: metadata of HTML code of Sydney University Homepage

Similarly, the University of Melbourne: keyword “the University of Melbourne”: 688,000 responds, keyword “Melbourne University”: 852,000 responds. It is a difference of 24%.

Institutions can pay millions of dollars to have their banners appearing in other Web pages to improve their Web accessibility. But, just a small rephrasing in their metadata keywords can improve their accessibility up to 11% for the University of Sydney and 24% for the University of Melbourne. This illustrates the significance of controlled vocabulary in improving accessibility and Search Engine Optimisation (SEO).

In fact, of the 31 institutions, there are 10 not using metadata in their homepages. They include 3 from Asia, 1 from France, 2 from Australia and the other 4 from the U.S.A. Most Australian institutions actually provide more that just minimal metadata. They use not only the frequent metadata tags “description” and “keywords” but also Dublin Core Metadata schemas to improve their accessibility. Monash University even goes beyond this and has its own metadata schema bases named “monash”. Figure 4 will display a sample of Monash metadata.

Monash metadata

Figure 4: Monash metadata

In general, British and Australian institutions make considerable use of metadata compared to others. All British institutions and 82% Australian institutions use metadata. However, there are various concerns relating to thesaurus design and controlled vocabulary in their metadata, that the scope of this study cannot cover.

4.3 PageRank

Google PageRank™ is to measure how relatively important a page is. It is a whole number between 0 and 10. It does not rank the academic quality and teaching practice of an institution; but partially indicate the significance of the website in the WWW.

Although, PageRank is yet a reference Web metric rather than a precise Q&A indicator, the rank of those institutions’ page can reveal many interesting on their online marketing effectiveness.

  • MIT is the only institution with a rank of 10. It should be acknowledged that only a few corporations or portals in such a high rank, i.e. Microsoft, Yahoo or W3C
  • Most US and British leading universities are ranked of 9 but the Imperial College London (8).
  • Australasian universities, including Australia Group 8, , Peking and Tokyo, are ranked of 8, except the University of Adelaide (7) and NUS (9) .
  • All business schools’ pages are ranked less than those of the universities.
  • The exceptions are Harvard, Stanford and London Business School (8). Their rankings equal to those of Australia group 8, Peking or Tokyo

MIT (10)stands out from other universities; because it is always quoted as the leading technology and computing university. The US and British leading universities are still the dominant power in academic and teaching; therefore, their ranks are higher than those of Australasian colleagues.Business schools’ domain is smaller than that of universities. It explains the lesser number of inbound links to business schools. As a result, business schools’ homepages are often ranked less than those of universities.

4.4 Google analytics (GA)

GA generates Web statistics about the visitor to a website. It can be a useful indicator to improve content quality and navigation structure of a website. In the sampling, there are up to 16 institutions using GA to record the statistics of the traffic to their website.

5. Issues of Dual-language

5.1 Why some universities still use dual languages

Despite their position in the World Top University League, Asian universities (National Univeristy of Singapore, Peking University and Tokyo University) ’s major traffic is domestic.In detail, 78% population of Singapore is Chinese and 57.7% NUS web surfers are from Singapore. 86.6% visitors of PKU is in China (mainland) and 70% web traffic of Tokyo University comes from Japan. To promote their international reputation and mantain their local user base, they must use a dual-language mode in their website.

5.2 And their solutions

NUS, Tokyo and Peking University share a similar solution to maintain a dual-language mode for their portal. They separate their local language pages and English pages into distinct information flows.

dual-language mode of Asian institution websites in the study.

Figure 5: dual-language mode of Asian institution websites in the study.

The default homepage of NUS and Tokyo University is English (2) whereas in Peking University (PKU), it is Chinese (1). NUS and Tokyo uses an identical layout for their (1) and (2) but PKY applies totally different layouts for its (1) and (2).

  • The NUS arranges its Chinese pages in a subfolder. For example, in NUS, (1) (1.1) (1.2) etc. are in a directory and (2), (2.1), (2.2) etc. in another directory. With an assumption that visitors use exclusive English or Chinese, this approach is efficient.
  • Tokyo maintains the dual-language mode in the same directory. It differentiates pages by appending a postfix for the page name. For instance, (1) is named index_j.html (j for Japanese), and (2) is name index_e.html (e for English).
  • PKU totally differentiate the layout and the content of their English and Chinese sub website

Maintaining a dual-language mode for institutions is a traumatic task in this way. As generating content in English, the Webmaster created an equivalent (translated) content in the local language with an identical layout (in case of NUS and Tokyo). In PKU, the task seems harder because of different layout.

Discussion

In Web standards, Australian institutions appeared to be more compliant. In usability, U.S institutions are more advanced. There is no golden model for institutions from this study but the following institutions have actually well done in terms of the main assessment areas of this study:

  • Stanford University is the leading institution because of XHTML Strict 1.0, CSS, table-less mark-up and very high usability score (28 out of 30).
  • Oxford University and Monash University share the second position because of XTHML Strict, CSS mark-up and 27 out of 30 usability score.

Compared to institutions from other countries, Australian institutions are more unified in terms of their use of information architecture and compliance with Web standards and CSS mark-up. Moreover, in their homepages, they often include ‘International Students’ as an audience option, which demonstrates that Australian universities have a strong focus on international students.

Again, Australian institutions changed their homepages more freqently than the US, UK and Asian institutions does. For instance, the recent changing face (homepage) of the University of Melbourne, Melbourne Business School and AGSM and the extreme makover of the Univeristy of Sydney, University of Adelaide’s portal (redesigning).

Business schools tend to present the content like a news portal. It allows a much higher number of media items on their homepages than that in universities. It is noteworthy that business school are typically an independent unit or a partnership with a university and the size and its offerings are smaller and fewer than those of the entire university. It results in the need to display less information in a business school’s homepage relative to that of the whole university. Such specialisation seems to promote the use of additional utilities such as search, jobs or ‘enlarge the text size’ and especially news and events items.

The original post is here.

Reference

  1. Alexander, D. (2005) How usable are university websites? A Report on a Study of the Prospective Student Experience, AusWeb05: Proceedings of the 11th Australasian World Wide Web Conference, Southern Cross University, Lismore, pp 303-320.
  2. DeWeaver, L. & Ellis, A. (2006) University Web-Marketing: A Report Card, in AusWeb06: Proceedings of the 12th Australasian World Wide Web Conference, Southern Cross University, Lismore pp 9-14.
  3. Digital Inspiratio (2005) Prevent Google Analytics from tracking your visit. Retrieved 12 -Dec, 2006, from http://labnol.blogspot.com/2005/11/prevent-google-analytics-from-tracking.html
  4. Monash University. (2004) Search and metadata. Retrieved 13-Jan, 2007, from http://www.monash.edu.au/staff/web/search/
  5. Nichani, M. (2006) The Changing Face of University Websites. Retrieved 15-Dec, 2006, from http://www.pebbleroad.com/article/the_changing_face_of_university_websites/
  6. Nielsen, J. & Tahir, M. (2002) Homepage usability: 50 websites deconstructed. Indianapolis, Ind: New Riders.
  7. Phillipson, G. (2006) Getting Connected, Campus Review, April 11, pp12-13.
  8. Ruwoldt, M. L. & Spencer, C. (2005) Navigation and content on university home pages. AusWeb05: Proceedings of the 11th Australasian World Wide Web Conference, Ausweb2005, Southern Cross University, Lismore, pp 431-434.