Archive for the The gioi Category

Mỹ: Thêm hai ngân hàng bán lẻ vỡ nợ

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags , on July 27, 2008 by keronii

Các nhà chức trách của Mỹ vừa đóng cửa thêm hai ngân hàng bán lẻ là First National Bank of Nevada và First Heritage Bank NA of California. Tổng số 28 chi nhánh của các ngân hàng này tại các bang Nevada, Arizona và California đã bị đóng cửa vào ngày 25/7 theo giờ địa phương.

Đây là hai ngân hàng thuộc sở hữu của công ty First National Bank Holding có trụ sở ở bang Arizona. Dưới sự sắp xếp của Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), hai ngân hàng này đã được bán lại cho ngân hàng Mutual of Omaha.

FDIC cho biết, các chi nhánh nói trên sẽ được mở cửa trở lại vào thứ Hai tuần tới với tư cách là chi nhánh của ngân hàng Mutual of Omaha. Cũng theo cơ quan này, việc tiếp quản hai ngân hàng vỡ nợ nói trên là giải pháp ít tốn kém nhất và tất cả các khách hàng gửi tiền tại hai ngân hàng này – bao gồm cả những người có số tiền gửi vượt quá giới hạn bảo hiểm của FDIC – sẽ được chuyển sang ngân hàng Mutual of Omaha với toàn bộ số tiền gửi của họ.

Ngoài ra, những ai có tài khoản tại hai ngân hàng này vẫn có thể truy cập tài khoản của họ trong suốt hai ngày cuối tuần này bằng cách viết séc, sử dụng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng.

Tính đến ngày 30/6 vừa qua, hai ngân hàng bị đóng cửa nói trên có tổng tài sản là 3,6 tỷ USD, so với mức 4,1 tỷ USD vào thời điểm 6 tháng trước đó. Ở trong tình trạng thiếu vốn, First National có tổng tài sản là 3,4 tỷ USD và nắm giữ 3 tỷ USD tiền gửi của khách hàng. Còn First Heritage – bị coi là thiếu vốn nghiêm trọng – có tài sản 254 triệu  USD và nắm giữ 233 triệu USD tiền gửi của khách hàng.

Về phần mình, ngân hàng Mutual of Omaha hiện có tài sản 750 triệu USD và vận hành 14 chi nhánh bán lẻ tại các bang Nebraska và Colorado. Đây là một chi nhánh của công ty dịch vụ tài chính và bảo hiểm Mutual of Omaha đã có lịch sử 99 năm.

FDIC cho biết, chi phí của vụ chuyển nhượng hai ngân hàng này cho Mutual of Ohma ước tính lên tới 862 triệu USD, đồng thời nhấn mạnh, hai ngân hàng này chỉ chiếm có 0,3% trong tổng số tài sản lên tới 13.400 tỷ USD tại 8.500 ngân hàng mà FDIC bảo hiểm.

FDIC hiện đang quản lý số tiền 53 tỷ USD để bảo lãnh cho các ngân hàng nằm trong diện bảo hiểm của tổ chức này. Số tiền bảo hiểm lên tới 100.000 USD cho mỗi tài khoản tiền gửi và 250.000 USD cho mỗi tài khoản hưu trí cá nhân. Hiện FDIC đang có một danh sách 90 ngân hàng gặp vấn đề tính đến hết quý 1 năm nay. Bản danh sách này sẽ được cập nhật thêm vào tháng tới.

Các nhà chức trách của Mỹ đã lên tiếng cảnh báo về việc có thêm những ngân hàng vỡ nợ nữa trong năm nay và năm tới, tuy nhiên, khó có khả năng xảy ra vụ sụp đổ nào lớn như vụ sụp đổ cách đây 2 tuần của ngân hàng IndyMac với tài sản 32 tỷ USD và lượng tiền gửi 19 tỷ USD. Là ngân hàng phá sản lớn thứ 3 ở Mỹ, hiện IndyMac vẫn nằm dưới sự giám sát của FDIC và có thể khiến quỹ của FDIC “hao” từ 4 – 8 tỷ USD. FDIC vẫn đang trong quá trình tìm khách để bán lại tài sản của ngân hàng này.

Theo ông Bill Uffelman thuộc Hiệp hội Ngân hàng Nevada, việc FDIC tiếp quản hai ngân hàng nói trên đã phản ánh tình hình khó khăn của các ngân hàng Mỹ trong bối cảnh kinh tế tồi tệ hiện nay. Quý 2 vừa qua tiếp tục là một quý đầy sóng gió đối với ngành ngân hàng Mỹ. Trong quý có tới 220.000 ngôi nhà bị tịch biên vì chủ nhà không trả nổi nợ ngân hàng, gần gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Từ đầu năm đến nay, đã có 7 ngân hàng ở Mỹ bị vỡ nợ.

Thống kê cho thấy, đã có gần 740.000 hồ sơ tịch biên nhà trong quý, tăng 14% so với quý 1 và tăng 121% so với cùng kỳ năm 2007. Như vậy, cứ 171 hộ gia đình ở Mỹ thì có 1 hộ nhận được một bộ hồ sơ đòi tịch biên nhà bao gồm thông báo vỡ nợ, thông báo bán đấu giá nhà và thông báo quyền sở hữu ngôi nhà của ngân hàng.

Toàn cầu hóa trong ban giám đốc

Posted in business, Kinh doanh, The gioi with tags , on July 23, 2008 by keronii

Trong vòng gần 4 thập kỷ tồn tại, SAP được coi là một doanh nghiệp của người Đức.

Công ty công nghệ lớn nhất nước Đức này có hơn 15.000 nhân viên trong nước và là thành viên lớn nhất trong chỉ số DAX-30, hàn thử biểu chính của thị trường chứng khoán nước này. Các loại phần mềm do SAP sản xuất hiện được sử dụng cho hoạt động kế toán, sản xuất và hệ thống lưu kho của nhiều trong số những công ty lớn nhất thế giới.

sap.jpg


Xu hướng mới
Tuy nhiên, SAP đang toàn cầu hóa với tốc độ rất nhanh chóng.  Tháng 4 vừa qua, người Mỹ được nắm giữ vị trí cao nhất trong SAP là ông Bill McDermott đã tham gia vào ban giám đốc của hãng. Ngày 1/7, SAP đưa Jose Duarte, một người Bồ Đào Nha, vào vị trí người đứng đầu bộ phận bán hàng tại thị trường châu Âu. Và theo dự kiến, tới tháng 5/2009, một người Pháp gốc Đức có tên Leo Apotheker sẽ trở thành CEO của tập đoàn này.

Tuy nhiên, SAP còn đang dự định có những bước tiến táo bạo hơn. Vài năm nữa, SAP sẽ bổ nhiệm một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc vào ban giám đốc của hãng, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử công ty có một giám đốc không phải là người phương Tây. “Trong vòng 3 – 5 năm tới, chắc chắn sẽ có một người Ấn Độ hoặc Trung Quốc trong ban giám đốc của chúng tôi”, CEO Henning Kagermann của SAP khẳng định.

Vị CEO này chưa “điểm danh” các ứng cử viên, tuy nhiên SAP đã có những ngôi sao đang nổi lên trong khu vực châu Á để lựa chọn. CEO của hãng tại Ấn Độ Rajan đã chuyển từ Mumbai tới Silicon Valley cách đây 1 năm. Một nhân vật nữa là Shang Ling Jui, Chủ tịch phụ trách bộ phận thí nghiệm của SAP tại Trung Quốc, một người gốc Đài Loan nhưng hiện mang quốc tịch Đức.

Nếu SAP chọn được một nhân vật phù hợp trong số những người này này để đưa vào ban giám đốc, doanh số của hãng tại các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tăng mạnh hơn nữa. Hiện Ấn Độ là thị trường tăng trưởng nhanh nhất của SAP, với doanh thu tăng gấp đôi hàng năm. Trong khi đó, doanh số của hãng tại thị trường Trung Quốc cũng tăng tới 50% mỗi năm.

Trong một kỷ nguyên mà hoạt động sản xuất, dịch vụ và nhất là doanh số tiêu thụ tại châu Á đang tăng mạnh, ngày càng có nhiều công ty Mỹ và châu Âu bắt đầu chính sách “hướng Đông”, nhìn về Ấn Độ, Trung Quốc và các thị trường đang nổi lên khác để tìm kiếm thế hệ tiếp theo trong ban lãnh đạo.

Tập đoàn ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ, vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực công nghiệp của Ấn Độ, mới đây đã bổ nhiệm một “đại gia” ngành thép gốc Ấn là tỷ phú Lakshmi Mittal vào một trong những ghế giám đốc của tập đoàn.

Tháng 5 vừa qua, Nokia – hãng điện thoại di động của Phần Lan hiện đang chiếm thị phần cao nhất ở Ấn Độ – cũng đưa Lalita Gupte, Chủ tịch của quỹ đầu tư mạo hiểm ICICI tại Mumbai, vào ban giám đốc. Năm ngoái, một người Ấn Độ khác là N.R. Narayana Murthy – người đồng sáng lập công ty công nghệ Infosys Technologies, tham gia ban giám đốc của hãng sản xuất hàng tiêu dùng đến từ Hà Lan Unilever.

Tập đoàn dược phẩm Novartis, hãng sản xuất hàng tiêu dùng Proter & Gamble (P&G)… là vài doanh nghiệp khác trong số những công ty Mỹ và châu Âu đã thuê người gốc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào ban giám đốc của họ.

“Chúng ta sẽ còn thấy nhiều trường hợp như vậy. Đây rõ ràng là một xu hướng”, ông Roger Kenny, Chủ tịch công ty tư vấn nhân sự Boardroom Consultants cho biết. Công ty của ông hiện đang tuyển dụng giám đốc ở Trung Quốc và Ấn Độ cho ít nhất hai công ty dược lớn của phương Tây.

Vai trò của giám đốc người châu Á
Giám đốc đến từ các thị trường đang nổi lên có thể giúp các công ty phương Tây xây dựng cầu nối chiến lược tới các quan chức doanh nghiệp và chính phủ, giải quyết những khó khăn về hành chính và luật pháp, đồng thời cân đo tác động của các quyết định được đưa ra từ các trụ sở ở phương Tây đối với các khách hàng ở New Dehli hay Thượng Hải.

Các thành viên người Ấn Độ và Trung Quốc trong ban giám đốc cũng có thể sát cánh với các thành viên còn lại trong việc ra quyết định đối với thị trường châu Á.

Đối với SAP, một thách thức là toàn cầu hóa bộ phận quan chức cao cấp của tập đoàn mà không làm mất đi bản sắc Đức. Trong khi mở rộng ra thị trường bên ngoài, hãng thận trọng không cắt giảm việc làm trong nước nhằm đảm bảo lòng trong trung thành của nhân viên và đảm bảo danh tiếng về chất lượng Đức.

“Chúng tôi là một công ty toàn cầu với gốc rễ ở Đức. Chúng tôi tự hào về gốc rễ này. Danh tiếng của cụm từ ‘Made in Germany’ vẫn tuyệt vời”, ông Kagerman nói.

Xét tới nhu cầu của tầng lớp người tiêu dùng trung lưu đang nổi lên ở Ấn Độ, Trung Quốc và Trung Đông đối với các sản phẩm laptop và điện thoại di động, cũng như nhu cầu của các quốc gia này trong việc hiện đại hóa hệ thống máy tính dùng trong các doanh nghiệp – các công ty công nghệ chính là những ứng cử viên rất tự nhiên trong việc đa dạng hóa quốc tịch trong ban giám đốc của họ.

Hãng máy tính HP đã đạt khoảng 70% doanh thu của họ từ thị trường nước ngoài; ở IBM, con số này là 2/3; còn ở Cisco, tỷ lệ này là 45%. “Nếu nhìn vào doanh thu của những công ty được coi là những doanh nghiệp Mỹ , có thể thấy, họ không còn là những công ty thuần Mỹ nữa”, giáo sư Vivek Wadhwa tại Đại học Duke và Trường Luật Havard nhận xét.

Nhà phân tích phần mềm Heather Bellini tại ngân hàng UBS cho rằng, không có gì là khó hiểu khi các công ty công nghệ muốn đưa vào ban giám đốc những thành viên hiểu biết rõ về các thị trường đang nổi lên. “Châu Á là một khu vực tăng trưởng khồng lồ”, bà nhận xét.

Tuy nhiên, xu hướng này tới nay vẫn tập trung trong lĩnh vực ngân hàng, sản xuất công nghiệp và hàng tiêu dùng. Ratan Tata, Chủ tịch tập đoàn Tata của Ấn Độ, năm 2007 đã gia nhập ban giám đốc của hãng nhôm Alcoa của Mỹ. Giám đốc người Thổ Nhĩ Kỳ Muhtar Kent mới đây đã trở thành CEO của Coca-Cola sau khi đã giữ một ghế giám đốc trong công ty này từ năm 2006. Mukesh Ambani, Chủ tịch công ty dầu lửa Reliance Industries, đồng thời là người giàu nhất Ấn Độ, có một ghế trong ban cố vấn của Citigroup, mặc dù ông không phải là một giám đốc.

Lý do là các công ty của Mỹ – quốc gia tập trung phần lớn ngành công nghệ của thế giới – được tiếp cận với một nguồn nhân lực giám đốc tiền năng lớn hơn ngay tại trong nước. Mặt khác, theo ông Charles Geoly, Giám đốc điều hành công ty săn đầu người Russell Reynolds Associates, một số tập đoàn của Mỹ như IBM, Coke và P&G phụ thuộc dựa nhiều vào thị trường Mỹ Latin hơn là châu Á.

Trong tất cả 500 công ty lớn nhất nước Mỹ năm 2006, chỉ có 81 ghế trong các ban giám đốc thuộc về người châu Á và Mỹ gốc Á.

Những hạn chế
Theo các nhà tuyển dụng, trên thực tế, việc tìm kiếm các ứng cử viên đủ kinh nghiệm, đủ khả năng để thường xuyên đi lại vòng quanh thế giới để tham dự các cuộc họp ban giám đốc và chịu đựng nổi “sự khó chịu” của các cổ đông phương Tây hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng.

“Có sự khác biệt lớn giữa những gì mà ban giám đốc muốn làm, những gì mà họ thực sự có thể làm được”, một nhà tuyển dụng cho biết.

Chuyện đi lại là một vấn đề lớn vì các giám đốc phải đi lại bằng máy bay ít nhất 6 lần một năm để tham dự các cuộc họp. Cũng theo các nhà tuyển dụng, ngoài ra, một số ứng cử viên còn lo ngại về việc tài sản cá nhân của họ có thể gặp nguy hiểm trong trường hợp các cổ đông phát đơn kiện họ.

Một khó khăn nữa trong việc tuyển dụng là tìm được những giám đốc từ các nền kinh tế đang nổi lên, nhưng lại có nền tảng phù hợp với một công ty phương Tây. Thường thì giám đốc trong một công ty thuộc chỉ số Standard & Poor’s 500 của thị trường chứng khoán Mỹ hiện ở độ tuổi khoảng 62 tuổi. Điều này có nghĩa là, nếu họ có kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm đó thường là thị trường châu Âu.

Trong khi đó, các giám đốc có kinh nghiệm ở thị trường Ấn Độ và Trung Quốc hiện thường ở thời kỳ giữa trong sự nghiệp của họ, và họ chưa sẵn sàng với sự biến chuyển nhanh chóng là nhảy vào một ghế trong ban giám đốc của một công ty nào đó.

Để giải quyết vấn đề này, các công ty có thể tuyển dụng giám đốc là chuyên gia về thị trường châu Á, nhứng lại không phải là người bản xứ.  Ông John Thornton , nguyên chủ tịch của Goldman Sachs, hiện đang dạy tại Đại học Tsinghua ở Bắc Kinh, là một ví dụ. Ông là một người rất hiểu biết về hoạt động kinh doanh ở châu Á và hiện đang ở trong ban giám đốc của các tập đoàn lớn như Intel, Ford và News Corp.

‘Pháo đài bay’ B-52 của Mỹ đâm xuống biển

Posted in Chuyện lạ, The gioi on July 21, 2008 by keronii

Sáng nay, một chiếc phi cơ ném bom chiến lược B-52 của Mỹ đã lao xuống Thái Bình Dương ngay sau khi cất cánh.

Đội cứu hộ bờ biển và Hải quân Mỹ đang tìm kiếm tại khu vực cách đảo Guam khoảng 48km về phía tây bắc. Có 6 thành viên phi hành đoàn trên chiếc B-52 hiện chưa xác định được tung tích. Vụ việc xảy ra vào lúc 9h45 sáng (6h45 Hà Nội), ngay trước lễ diễu hành chào mừng ngày giải phóng đảo Guam khỏi ách phát xít Nhật trong Thế chiến II. Chiếc phi cơ này có kế hoạch tham gia vào hoạt động này nhưng lâm nạn.

Đảo Guam bị quân Nhật chiếm đóng tháng 12/1941 và được giải phóng vào ngày 21/7/1944. Hòn đảo này nằm dưới quyền kiểm soát của Mỹ từ năm 1898 và là vùng lãnh thổ duy nhất của Washington từng bị nước ngoài chiếm đóng.

Hồi tháng 2 vừa qua, chiếc phi cơ ném bom tàng hình B-2 của Mỹ có trị giá lên tới 1,2 tỷ USD cũng đâm xuống căn cứ không quân Andersen ở Guam. May mắn là hai phi công kịp thoát ra an toàn.

Zimbabwe phát hành đồng 100 tỷ đôla

Posted in The gioi on July 21, 2008 by keronii

Với tờ bạc 100 tỷ đôla mà chính phủ Zimbabwe phát hành hôm nay, người dân địa phương chỉ mua được một ổ bánh mì.

Tờ bạc mới này được coi như một loại séc đặc biệt, nhưng với những người dân bản địa, nó còn không đủ cho một bữa ăn trưa. “Mỗi ngày tôi tiêu dè xẻn cũng phải mất 500 tỷ đôla. Để về đến nhà, tôi cần 250 tỷ đôla. Còn với tờ bạc 100 tỷ đôla, cũng chẳng làm được gì cả”, một người dân than phiền.

Trong tháng một, tờ bạc 10 triệu đôla của Zimbabwe đã được lưu hành, không lâu sau đó tờ 50 triệu đôla ra đời, và đến tháng 6 vừa rồi, tờ bạc 10 tỷ đôla cũng được in ra. Ngân hàng trung ương nước này thông báo tờ bạc 100 tỷ đôla chính thức được lưu hành vào ngày hôm nay.

Lạm phát của nước này đã lên tới 2.200.000%,

nhưng các chuyên gia kinh tế tin rằng con số thực tế còn cao hơn thế nhiều lần. 80% dân số nước này rơi vào nghèo đói dù tất cả đều tiêu tiền tỷ. Nhờ đó Zimbabwe được coi là một trong những nước “giàu nhất” châu Phi. Kinh tế nước này lâm vào khủng hoảng trầm trọng trong vài năm trở lại đây. Những chính sách của Tổng thống Robert Mugabe liên tục bị chê trách nhưng chưa ai tìm ra được giải pháp.

Tham nhũng, nhu cầu tích trữ ngoại tệ của người dân ngày một cao, lạm phát phi mã, khiến đồng tiền của nước này liên tục mất giá.

Chứng khoán: Tâm lý bầy đàn ở Trung Quốc

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags on July 21, 2008 by keronii

Trung Quốc là một trong số rất ít các quốc gia trên thế giới nơi mà sự ám ảnh của người dân đối với thị trường chứng khoán thường xuyên được bộc lộ trên đường phố như một thói quen. Cứ mỗi cuối tuần, trên vỉa hè của đường Quảng Đông gần Quảng trường Nhân dân ở Thượng Hải, hàng trăm nhà đầu tư tập trung để trao đổi bí quyết và quan điểm về chứng khoán.

Một số người tập trung thành từng nhóm nhỏ và thảo luận với vẻ bí mật, trong khi một số khác diễn tả quan điểm của họ bằng cách nói to và vung tay vung chân rất “sinh động”, khiến nhiều người phải chú ý. Nhiều trong số họ là cán bộ hưu trí hoặc mất việc, số khác là công nhân, nhưng không ít nhà đầu tư ở đây có những khoản đầu tư lớn. “Tôi đã đầu tư 10.000 USD tiền tiết kiệm của gia đình vào chứng khoán”, một người đàn ông tuổi trung niên cho biết.

Khi Chính phủ khuyến khích mua cổ phiếu

Gần đây, tâm trạng của các nhà đầu tư xuất hiện trên con phố này trở nên ảm đạm, cũng giống như tâm trạng của các nhà đầu tư ở New York, London Sao Paulo, Istabul và gần như tất cả các thị trường khác trên thế giới. Tuy nhiên, sự đi xuống của thị trường chứng khoán Trung Quốc là sự đi xuống được coi là đặc biệt, xét về quy mô của sự đi xuống này.

Từ cuối năm ngoái tới nay, chỉ số Shanghai Composite đã giảm mất hơn 50%, từ mức trên 6.000 điểm (với mức điểm này, sàn Thượng Hải sàn giao dịch chứng khoán địa phương lớn thứ hai trên thế giới xét về giá trị vốn hóa thị trường) xuống còn trên 2.800 điểm vào tháng 6. Ngược lại, so với cùng kỳ năm ngoái, Sở Giao dịch Chứng khoán New York chỉ giảm chưa đầy 20%. Hiện tại, nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ – đối tượng chiếm 60% thị trường Trung Quốc – đã rời bỏ sàn giao dịch, trong khi nhiều người khác thì vò đầu bứt tai vì chứng khoán cứ mất giá liên tục.

Việc Trung Quốc giải quyết ra sao sự sụt giảm của thị trường chứng khoán có thể có những tác động vượt ra khỏi cộng đồng các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường này. Phần lớn những người mua cổ phiếu ở Trung Quốc đều là những người thuộc tầng lớp trung lưu và những người giàu có – đối tượng mà Trung Quốc và cả phần còn lại của thế giới đang dựa vào nhằm thúc đẩy tiêu dùng trong nước và lấy lại sự cân bằng cho kinh tế thế giới. Hiện nay, tài sản của nhiều hộ gia đình ở Trung Quốc đã tiêu tan tới một nửa vì chứng khoán, giữa lúc giá cả leo thang và người tiêu dùng đang trở nên thận trọng hơn trong việc tiêu tiền.

Trong khi đó, thị trường vẫn liên tục chao đảo vì thực tế rằng các nhà đầu tư không thể nắm rõ được tình hình doanh nghiệp, chủ yếu do mức độ kiểm soát và can thiệp của Chính phủ đối với thị trường dẫn tới tình trạng thiếu thông tin minh bạch thực sự. Sự mập mờ này cùng với việc nhiều nhà đầu tư vẫn tin rằng Bắc Kinh đến một lúc nào đó sẽ bơm tiền cứu thị trường khiến thị trường chứng khoán Trung Quốc càng thêm biến động, thậm chí nếu xét ở tiêu chuẩn của một thị trường đang nổi lên.

Có người cho rằng, các nhà đầu tư chứng khoán Trung có thể đã học được nhiều từ những bài học trong quá khứ. Vào cuối thập niên 1990, thị trường chứng khoán Thượng Hải đã có một thời kỳ lao dốc thảm hại, và sau đó, đến năm 2001, giá cổ phiếu lại tăng vọt. Tiếp đó lại là một thời kỳ sụt giảm mạnh mẽ nữa. Trong 4 năm sau đó, thị trường ngưng trệ. Tuy nhiên, trong thời gian từ cuối năm 2005 đến tháng 10/2007, chỉ số Shanghai Composite đã tăng 500%, một phần nhờ Chính phủ Trung Quốc thúc đẩy một loạt đợt IPO khổng lồ. Những kinh nghiệm quá khứ chỉ khiến sự tăng vọt này thêm đáng sợ đối với các nhà đầu tư.

Ở phương Tây, sự can thiệp nhiều hơn của chính phủ vào thị trường chứng khoán thường bị coi là đem đến những tác động không tốt. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, các quan chức, giới truyền thông và các ngân hàng thường thiên về xu hướng cường điệu hóa thị trường. Ban đầu, thị trường chứng khoán Trung Quốc được xây dựng nhằm huy động vốn cho hoạt động cải cách doanh nghiệp quốc doanh vào thập niên 1990. Theo nhà kinh tế học Andy Xie, hiện nay Chính phủ Trung Quốc không chỉ phê duyệt tất cả các đợt IPO mà còn thiết lập giá cổ phiếu được IPO. Theo ông Xie, đây là mô hình cũ.

Cũng theo chuyên gia này, các cơ quan chức năng của Trung Quốc thường thông qua các phương tiện truyền thông để bày tỏ quan điểm về thị trường chứng khoán và khuyến khích người dân mua cổ phiếu. Những câu chuyện trong đó các quỹ đầu tư và thậm chí cả các công ty quốc doanh được hướng dẫn mua vào một cổ phiếu nào đó đã trở thành phổ biến. Các hoạt động giao dịch nội bộ và các dạng thao túng thị trường khác cũng diễn ra phổ biến.

Thực tế rằng thị trường chứng khoán Trung Quốc tiếp tục hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước bất chấp những hạn chế nói trên một phần lớn là do sự lạc hậu và cô lập tương đối của hệ thống tài chính của nước này. Lãi suất ngân hàng ở Trung Quốc đã ở mức thấp trong nhiều năm, các sản phẩm tài chính có số lượng hạn chế, và người dân Trung Quốc hầu như không có kênh đầu tư nào ra nước ngoài. Do đó, bất động sản và chứng khoán là hai kênh đầu tư chính mà người Trung Quốc đổ tiền tiết kiệm của họ vào.

Hiện tại, Trung Quốc ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong nền kinh tế thế giới và việc thị trường chứng khoán nước này vận hành tốt ngày càng quan trọng hơn, không chỉ đối với bản thân Trung Quốc, mà còn đối với cả thế giới. Trung Quốc hy vọng sẽ thu hút được các quỹ đầu tư quốc tế vào thị trường chứng khoán nước này thông qua một chương trình khởi động cách đây vài năm theo đó các công ty quản lý quỹ nước ngoài được trao địa vị nhà đầu tư thể chế nước ngoài đủ tiêu chuẩn (QFII). Các quỹ như vậy hiện mới chỉ chiếm có 4% giá trị vốn hóa thị trường của thị trường chứng khoán Trung Quốc, với khoảng 30 tỷ USD vốn đầu tư tính đến năm 2007.

Quan trọng không kém, cơ quan chức năng của Trung Quốc cũng đã công bố những kế hoạch lớn để đưa Thượng Hải trở thành một trung tâm tài chính quốc tế lớn ở châu Á – Thái Bình Dương, với các thị trường vốn, giao dịch tài chính kỳ hạn và các nghiệp vụ phái sinh. Một thị trường chứng khoán độc lập là điều kiện tiên quyết cho tất cả những kế hoạch này.

Thu hút đầu tư nước ngoài: “Con rồng” đang yếu thế?

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags , on July 17, 2008 by keronii

Trung Quốc đang nỗ lực trước sức cạnh tranh gia tăng từ phía Việt Nam và Ấn Độ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong một thời gian dài, khi muốn sản xuất bất kỳ một thứ gì, từ quần áo, giày dép, đồ chơi tới túi xách, các nhà đầu tư đều tìm đến khu vực bờ biển phía Đông Nam Trung Quốc, bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Giang Tô, Phúc Kiến và Triết Giang.

Với giá nhân công rẻ, hệ thống cảng biển tiện lợi và những đặc khu kinh tế có mức thuế xuất khẩu bằng 0 và các ưu đãi khác về thuế, những thương hiệu lớn nhất thế giới đã bị hút về vùng này với một tốc độ khó tin.

Các nhà máy chuyển đi
Động lực phía sau sự phát triển kinh tế đáng nể của “con rồng” Trung Quốc chính là lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Một nửa hàng thành phẩm trên thế giới được sản xuất ở nước này. Tỷ lệ đối với hàng linh kiện và hàng bán thành phẩm cũng tương tự.

Tuy nhiên, hiện nay, do chi phí tăng cao và môi trường cạnh tranh nhiều thử thách hơn, hàng ngàn công ty đang tìm kiếm địa điểm đầu tư mới ở châu Á, ngoài Trung Quốc. Do đó, những địa điểm sản xuất hàng đầu của Trung Quốc đang phải đối với với sức ép cạnh tranh gia tăng từ những quốc gia láng giềng.

Một báo cáo do nhà kinh tế Tao Dong của Ngân hàng Credit Suisse (chi nhánh tại Hồng Kông) thực hiện dự báo rằng, 1/3 các nhà sản xuất ở tỉnh Quảng Đông – khu vực sản xuất 30% hàng xuất khẩu của Trung Quốc – sẽ đóng cửa trong vòng 3 năm tới.

“Từ quý 1/2008, tốc độ tăng trưởng trong ngày điện tử đã chậm lại”, nhà kinh tế Gao Sumei thuộc Bộ Công nghiệp của Trung Quốc cho biết. “Trong khi đó, các quốc gia láng giềng tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Do đó, một số nhà đầu tư đã chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam, Ấn Độ và các nước khác”, ông Gao nói.

Năm ngoái, hãng sản xuất hàng điện tử Nhật Bản Canon đã quyết định hợp nhất hai nhà máy ở Trung Quốc và đầu tư 700 triệu Nhân dân tệ (65 triệu Euro) để xây dựng nhà máy ở Việt Nam nhằm giảm chi phí. Việt Nam và Ấn Độ đã trở nên mạnh hơn trong cuộc đua thu hút các nhà sản xuất trong các ngành sản xuất có chi phí thấp. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, giúp tạo ra khả năng tiếp cận rộng lớn hơn của nước này với thị trường thế giới.

Tháng 7 năm ngoái, PricewaterhouseCoopers đã xếp hạng Việt Nam là đích đến cạnh tranh nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất trong số 20 thị trường mới nổi hàng đầu của thế giới. Trung Quốc chỉ xếp ở vị trí thứ hai trong danh sách này.

Tình hình hiện nay đối với Trung Quốc không sáng sủa như trước đây. Tại nước này, người ta nhận thấy môi trường đầu tư đang thay đổi, mặc dù chưa tới mức đáng ngại.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, công nhân không có trình độ được trả mức lương bình quân 1.669.000 đồng (54 Euro)/tháng, thấp hơn 41% so với những công nhân được trả lương thấp nhất ở Giang Tây, Trung Quốc.

Ở Ấn Độ, giá nhân công thậm chí còn rẻ hơn, chỉ ở mức bình quân 3.843 Rupee (57 Euro)/tháng. Chính phủ Ấn Độ hiện đang xây dựng hơn 400 đặc khu kinh tế để thu hút đầu tư nước ngoài. Người ta lo ngại giá cả tăng cao tại Trung Quốc sẽ tạo ra hiệu ứng domino đối với lạm phát trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ.

Trong số những thay đổi lớn đang diễn ra ở Trung Quốc phải kể tới luật lao động mới được áp dụng từ ngày 1/1 năm nay. Theo đó, sự bảo vệ đối với công nhân Trung Quốc, bao gồm cả lao động trong được tăng cường, đồng thời tăng thêm lương cho công nhân thêm khoảng 22% ở một số khu vực.

Về cơ bản, luật mới này yêu cầu các hợp đồng lao động phải được kí kết dưới dạng văn bản ngay trong tháng đầu tiên sử dụng lao động. Do đó, việc thuê công nhân tạm thời trở nên khó khăn hơn và đem đến sự hỗ trợ cho những công nhân bấy lâu nay bị vi phạm quyền lợi. Đúng như dự báo, phản ứng từ phía các chủ sử dụng lao động kể cả địa phương và nước ngoài đều là tiêu cực.

Báo chí Trung Quốc đưa tin bốn cửa hàng của hãng bán lẻ Wal-Mart ở Thâm Quyến, Thượng Hải, Đông Quan và Phú Kiến đã sa thải hàng trăm nhân viên vào tháng 10 năm ngoái. Công ty Huawei ở Thâm Quyến cũng đã đưa ra gói nghỉ việc tự nguyện trị giá 1 tỷ Nhân dân tệ (90 triệu USD) dành cho 7.000 công nhân. Một số công ty Hàn Quốc ở Sơn Đông đột ngột sa thải hàng trăm công nhân mà không trả lương cho họ trước khi luật trên được đưa vào áp dụng.

Cùng lúc, nhiều công ty sản xuất bảng điện in của Đài Loan tích cực tìm kiếm địa chỉ đầu tư mới trong khu vực vì những thay đổi môi trường kinh doanh ở Trung Quốc. Thành phố Đông Quan của tỉnh Quảng Đông từng một thời là “thủ phủ” giày da của thế giới, nhưng hiện nay hàng trăm nhà máy đã phải đóng cửa vì chi phí tăng cao và các công ty đang tìm kiếm nơi đầu tư mới trong khu vực, trong đó có Ấn Độ.

“Trung Quốc đã bắt đầu coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường. Quyền lợi của người lao động cũng được bảo vệ chặt hơn. Điều này đồng nghĩa với việc một số công ty sẽ phải chịu chi phí cao hơn và họ sẽ chọn cách tìm địa điểm khác để đầu tư. Đây là điều tự nhiên vì cả thế giới lúc này là một thị trường mở”, ông Wang Yukun, một nhà nghiên cứu từng làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu phát triển – Hội đồng Nhà nước Trung Quốc và hiện là cố vấn cho Ngân hàng Thế giới nói.

Một yếu tố khác dẫn tới việc nhiều công ty rời Trung Quốc là đồng Nhân dân tệ tăng giá mạnh so với USD, khiến hàng xuất khẩu từ Trung Quốc giảm sức cạnh tranh. Năm ngoái, Nhân dân tệ tăng giá 7% so với USD.

Trung Quốc vẫn yên tâm

Ông Wang cho biết: “Theo tôi được biết, nhiều công ty lớn vẫn ở lại Trung Quốc vì các nhà cung cấp chính của họ là ở Trung Quốc. Nhiều công ty có thể chọn Việt Nam hay Ấn Độ để đặt nhà máy sản xuất nhưng họ sẽ không chuyển toàn bộ công ty tới đó”.

Cần phải nói thêm, việc dịch chuyển các cơ sở sản xuất không phải là điều mà nhiều người mong đợi, nhưng Chính phủ Trung Quốc hiện đang đặt trọng tâm ưu tiên thu hút những ngành sản xuất có giá trị cao hơn bao gồm chip máy tính, hàng điện tử và xe hơi. Do đó, việc các nhà máy sử dụng nhiều nhân công rời Trung Quốc không khiến nước này quá lo ngại.

Mặt khác, nhiều công ty không chuyển hẳn ra ngoài Trung Quốc mà đơn thuần chỉ chuyển địa điểm đầu tư ngay ở nước này. Các công ty đặt tại các thành phố lớn khu vực ven biển phía Đông Nam đã chuyển sâu vào trong nội địa nơi chi phí sản xuất rẻ hơn. Chính phủ Trung Quốc cũng nỗ lực đưa ra nhiều chương trình khuyến khích các công ty tới các địa phương có giá nhân công rẻ.

Mặc dù vậy, ở những địa phương này, các nhà đầu tư lại phải đối mặt với những vấn đề tương tự như ở Việt Nam, Ấn Độ hay Thái Lan – đó là công nhân thiếu kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng yếu kém và cảng biển cách xa.

Đối với Chính phủ Trung Quốc, mục tiêu chính luôn là thúc đẩy sự ổn định, trong khi đó, sự phát triển mạnh mẽ của một số khu vực sản xuất chính đã nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa người dân ở các thành phố ven biển và hơn 700 triệu người sống ở các địa phương nằm sâu trong nội địa. Do đó, chính sách “Hướng Tây” khuyến khích người dân di chuyển tới những khu vực phía Tây đã khiến Chính phủ Trung Quốc chi 1.000 tỷ Nhân dân tệ từ năm 2005 tới nay.

Một báo cáo của ngân hàng Royal Bank of Scottland tin rằng ảnh hưởng của việc các nhà đầu tư ở Trung Quốc chuyển sang Việt Nam hay Ấn Độ đối với nước này chỉ là nhỏ. Dân số 84 triệu người của Việt Nam nhỏ hơn dân số 93 triệu người của tỉnh Quảng Đông. Mặt khác, mặc dù các nhà máy thuộc các lĩnh vực đòi hỏi nhiều nhân công có thể chuyển đi, những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn vẫn ở lại Trung Quốc do các rào cản để đầu tư vào những ngành này ở Trung Quốc hiện đã cao hơn và tỷ suất lợi nhuận cũng cao hơn.

Một cuộc điều tra gần đây đối với các nhà đầu tư Hồng Kông có nhà máy ở Trung Quốc cho thấy 14% trong số này tính chuyện chuyển nhà máy sang Việt Nam, còn 29% dự định ở lại Trung Quốc và chỉ chuyển nhà máy tới những khu vực có chi phí thấp hơn.

Không ai cho rằng sức cạnh tranh của Trung Quốc sẽ biến mất ngày một ngày hai và đa phần các nhà kinh tế đều tin rằng hàng hóa từ quốc gia đông dân nhất châu Á sẽ còn có mức giá rẻ trong nhiều năm nữa. Những con số về tăng trưởng của Trung Quốc, dù giảm nhẹ, vẫn là những con số đáng thán phục.

Theo tính toán của hãng tin Bloomberg, năm ngoái, lượng hàng công nghệ cao mà Trung Quốc xuất khẩu tăng 412% so với năm 2002 lên mức 347,8 tỷ Nhân dân tệ (32 tỷ Euro), chiếm 28,5% toàn bộ kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 11,9% vào tăng trưởng GDP của nước này. Kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ tăng trưởng 10% trong năm nay và 9,5% trong năm tới.

Rõ ràng, sự bùng nổ của lĩnh vực sản xuất ở Trung Quốc vẫn chưa tới hồi kết.

Indonesia nghi mất 22 tỷ USD từ dầu mỏ

Posted in The gioi on July 10, 2008 by keronii

Cơ quan chống tham nhũng của Indonesia vừa mở một cuộc điều tra xung quanh nghi vấn khoảng 22 tỷ USD từ doanh thu của ngành dầu mỏ và khí đốt nước này đã biến mất.

Một quan chức của cơ quan điều tra Indonesia cho hay, họ đang thẩm vấn một số quan chức của ban giám sát Cơ quan điều tiết và khai thác dầu khí quốc gia Indonesia là BP Migas. Số liệu kiểm toán cho thấy, cơ quan này đã để mất khoảng 200.000 tỷ rupiah (22 tỷ USD) mà không giải trình được nguyên nhân.

Phát ngôn viên của Ủy ban chống tham nhũng Indonesia (KPK) là Johan Budi mới đây cho hay, đến nay chưa có bằng chứng về hành vi hối lộ và việc điều tra ngành dầu khí nước này chỉ là một phần trong chương trình làm việc của họ.

Ông này cũng không cho biết thêm thông tin, song một quan chức khác của KPK tiết lộ, họ đã phát hiện có sự chênh lệch về lượng dầu mỏ và khí đốt được bơm khỏi các mỏ và khối lượng được công bố. “Chúng tôi đã mời họ (BP Migas) tới để giải trình về cơ chế khai thác dầu và khí tại hãng. Có thể đã có những phần tài sản quốc gia được khai báo không chính xác”, ông này cho hay.

Song vị quan chức này cho hay, chưa có bằng chứng về tham nhũng. “Chưa có cá nhân nào bị nghi ngờ về hành vi tham những cả. Đây chỉ là một phần trong chương trình phòng chống của chúng tôi”, ông này cho biết thêm. Phó giám đốc KPK Haryono Umar cho hay, BP Migas đã không kiểm tra chéo báo cáo của các đơn vị về sản lượng dầu mỏ và khí đốt. “Chúng tôi cần có sự đảm bảo rằng thông tin công bố phải là chính xác”, ông này nói.

Ông Umar cũng cho hay, BP Migas và KPK đã thỏa thuận thành lập một nhóm kỹ thuật để điều tra sự chênh lệch về số liệu được được công bố và xử lý các sai sót nếu có. Ủy ban chống tham nhũng Indonesia KPK được thành lập sau thời của cựu tổng thống Suharto. Gần đây cơ quan này đã kiểm tra một loạt cơ quan trọng yếu của Indonesia như ngân hàng trung ương, tòa án tối cao và văn phòng tổng chưởng lý.