Archive for Ngân hàng

Mỹ: Thêm hai ngân hàng bán lẻ vỡ nợ

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags , on July 27, 2008 by keronii

Các nhà chức trách của Mỹ vừa đóng cửa thêm hai ngân hàng bán lẻ là First National Bank of Nevada và First Heritage Bank NA of California. Tổng số 28 chi nhánh của các ngân hàng này tại các bang Nevada, Arizona và California đã bị đóng cửa vào ngày 25/7 theo giờ địa phương.

Đây là hai ngân hàng thuộc sở hữu của công ty First National Bank Holding có trụ sở ở bang Arizona. Dưới sự sắp xếp của Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), hai ngân hàng này đã được bán lại cho ngân hàng Mutual of Omaha.

FDIC cho biết, các chi nhánh nói trên sẽ được mở cửa trở lại vào thứ Hai tuần tới với tư cách là chi nhánh của ngân hàng Mutual of Omaha. Cũng theo cơ quan này, việc tiếp quản hai ngân hàng vỡ nợ nói trên là giải pháp ít tốn kém nhất và tất cả các khách hàng gửi tiền tại hai ngân hàng này – bao gồm cả những người có số tiền gửi vượt quá giới hạn bảo hiểm của FDIC – sẽ được chuyển sang ngân hàng Mutual of Omaha với toàn bộ số tiền gửi của họ.

Ngoài ra, những ai có tài khoản tại hai ngân hàng này vẫn có thể truy cập tài khoản của họ trong suốt hai ngày cuối tuần này bằng cách viết séc, sử dụng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng.

Tính đến ngày 30/6 vừa qua, hai ngân hàng bị đóng cửa nói trên có tổng tài sản là 3,6 tỷ USD, so với mức 4,1 tỷ USD vào thời điểm 6 tháng trước đó. Ở trong tình trạng thiếu vốn, First National có tổng tài sản là 3,4 tỷ USD và nắm giữ 3 tỷ USD tiền gửi của khách hàng. Còn First Heritage – bị coi là thiếu vốn nghiêm trọng – có tài sản 254 triệu  USD và nắm giữ 233 triệu USD tiền gửi của khách hàng.

Về phần mình, ngân hàng Mutual of Omaha hiện có tài sản 750 triệu USD và vận hành 14 chi nhánh bán lẻ tại các bang Nebraska và Colorado. Đây là một chi nhánh của công ty dịch vụ tài chính và bảo hiểm Mutual of Omaha đã có lịch sử 99 năm.

FDIC cho biết, chi phí của vụ chuyển nhượng hai ngân hàng này cho Mutual of Ohma ước tính lên tới 862 triệu USD, đồng thời nhấn mạnh, hai ngân hàng này chỉ chiếm có 0,3% trong tổng số tài sản lên tới 13.400 tỷ USD tại 8.500 ngân hàng mà FDIC bảo hiểm.

FDIC hiện đang quản lý số tiền 53 tỷ USD để bảo lãnh cho các ngân hàng nằm trong diện bảo hiểm của tổ chức này. Số tiền bảo hiểm lên tới 100.000 USD cho mỗi tài khoản tiền gửi và 250.000 USD cho mỗi tài khoản hưu trí cá nhân. Hiện FDIC đang có một danh sách 90 ngân hàng gặp vấn đề tính đến hết quý 1 năm nay. Bản danh sách này sẽ được cập nhật thêm vào tháng tới.

Các nhà chức trách của Mỹ đã lên tiếng cảnh báo về việc có thêm những ngân hàng vỡ nợ nữa trong năm nay và năm tới, tuy nhiên, khó có khả năng xảy ra vụ sụp đổ nào lớn như vụ sụp đổ cách đây 2 tuần của ngân hàng IndyMac với tài sản 32 tỷ USD và lượng tiền gửi 19 tỷ USD. Là ngân hàng phá sản lớn thứ 3 ở Mỹ, hiện IndyMac vẫn nằm dưới sự giám sát của FDIC và có thể khiến quỹ của FDIC “hao” từ 4 – 8 tỷ USD. FDIC vẫn đang trong quá trình tìm khách để bán lại tài sản của ngân hàng này.

Theo ông Bill Uffelman thuộc Hiệp hội Ngân hàng Nevada, việc FDIC tiếp quản hai ngân hàng nói trên đã phản ánh tình hình khó khăn của các ngân hàng Mỹ trong bối cảnh kinh tế tồi tệ hiện nay. Quý 2 vừa qua tiếp tục là một quý đầy sóng gió đối với ngành ngân hàng Mỹ. Trong quý có tới 220.000 ngôi nhà bị tịch biên vì chủ nhà không trả nổi nợ ngân hàng, gần gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Từ đầu năm đến nay, đã có 7 ngân hàng ở Mỹ bị vỡ nợ.

Thống kê cho thấy, đã có gần 740.000 hồ sơ tịch biên nhà trong quý, tăng 14% so với quý 1 và tăng 121% so với cùng kỳ năm 2007. Như vậy, cứ 171 hộ gia đình ở Mỹ thì có 1 hộ nhận được một bộ hồ sơ đòi tịch biên nhà bao gồm thông báo vỡ nợ, thông báo bán đấu giá nhà và thông báo quyền sở hữu ngôi nhà của ngân hàng.

Advertisements

Rối bời Ngân hàng Hồng Việt

Posted in Kinh doanh with tags , on July 27, 2008 by keronii

Việc Tập đoàn Dầu khí quyết định không thành lập Ngân hàng Hồng Việt đang đặt ra những khó khăn.

Kế hoạch dày công chuẩn bị thành lập Ngân hàng Hồng Việt đứng trước khả năng phải hủy bỏ. Phía sau khả năng này là những xáo trộn liên quan đến cổ đông. Với những cổ đông sáng lập, sẽ là những vấn đề lớn; với nhà đầu tư nhỏ, kết quả đầu tư đang khiến nhiều người rối bời.

Theo một số nguồn tin, Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) đã chính thức có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xin phép không thành lập Ngân hàng Hồng Việt. Nguyên do là theo chỉ đạo của Thủ tướng, Petro Vietnam không thể cùng lúc góp vốn tại các ngân hàng khác nhau. Hiện tập đoàn này đang nắm 9,5% vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu (GP Bank).

Đứng trước hai phương án

Như vậy Petro Vietnam chính thức xin rút khỏi dự án, các cổ đông còn lại đang đứng trước hai khả năng: Cùng rút vốn về và hủy dự án, hoặc tiếp tục triển khai không có sự tham gia của cổ đông này. Cả hai phương án đều có những khó khăn riêng.

Nếu ở khả năng thứ nhất, có vẻ đơn giản hơn khi các bên góp vốn chấp nhận bỏ phí công sức và thời gian dài chuẩn bị trước đó (từ năm 2006). Vấn đề còn lại là hoàn vốn cho nhà đầu tư, xử lý một số vấn đề liên quan đến nhân sự, cơ sở hạ tầng… đã chuẩn bị trước đó. Và với khả năng này, nhiều nhà đầu tư nhỏ cũng đang đứng trước những khó khăn và rủi ro nhất định.

Ở khả năng thứ hai, sẽ rất khó khăn khi Ngân hàng Hồng Việt (dưới đây gọi tắt là Hồng Việt) không còn Petro Vietnam. Không phải vì uy tín, thương hiệu hay tiềm lực vốn… của đối tác này trong hoạt động của ngân hàng tương lai, mà là việc xử lý “phần” của PetroVietnam trong quá trình chuẩn bị thành lập ngân hàng này.

Khi người viết liên hệ thông tin, lãnh đạo Petro Vietnam từ chối trao đổi về Hồng Việt, bởi họ đã quá đau đầu trong suốt thời gian qua về dự án này. Tuy nhiên, có thể thấy Petro Vietnam đã mất nhiều thời gian để chuẩn bị về nhiều mặt cho Hồng Việt; và nay, nếu các cổ đông còn lại tiếp tục triển khai, việc “định giá” công sức, đóng góp của đối tác dấu khí này là một vấn đề khó khăn, có thể nói là khá nhạy cảm, để giải quyết nhanh gọn và ổn thỏa.

Mặt khác, trong các cổ đông còn lại, có trường hợp đã lên tiếng xin rút vốn về; tính thống nhất để tiếp tục theo đuổi kế hoạch hiện chưa được khẳng định. Trường hợp có được sự thống nhất, một điều có thể khẳng định là Hồng Việt sẽ mất thêm nhiều thời gian hơn để ra đời, điều mà nhiều cổ đông lớn nhỏ đã sốt ruột chờ đợi hai năm qua. Mấu chốt vẫn là thời gian để xử lý các vấn đề liên quan đến Petro Vietnam và tiếp tục chờ giấy phép từ Ngân hàng Nhà nước.

Được biết, các cổ đông còn lại cũng đã có cuộc họp bàn về hai khả năng trên. Tuy nhiên, đại diện các bên đều từ chối đưa ra thông tin cũng như quan điểm giải quyết của dự án. Điều này càng khiến nhiều nhà đầu tư nhỏ rối bời.

Rủi ro và… chấp nhận

Ngay khi có thông tin Petro Vietnam xin rút khỏi dự án, nhiều nhà đầu tư nhỏ hoang mang bởi không biết kết quả cuối cùng của Hồng Việt sẽ đến đâu. Thông tin chính thống và cụ thể hạn chế càng đè nặng tâm lý nhiều người.

Câu hỏi chung trong các cuộc gọi tới phóng viên là số phận của những khoản đầu tư của họ trên thị trường tự do (OTC) sẽ như thế nào?

Trước câu hỏi trên, thông tin từ ông Lê Xuân Sơn, Trưởng ban trù bị Hồng Việt, cho biết: Với những trường hợp cán bộ nhân viên đã tham gia góp vốn, có thể họ lựa chọn tiếp tục tham gia đầu tư tái cấu trúc một ngân hàng mới với Petro Vietnam (hiện có thông tin tập đoàn này sẽ đầu tư vào Ngân hàng Hàng hải), hoặc rút lại vốn.

Còn với nhà đầu tư mua “qua tay” bên ngoài những suất đầu tư trên, tự thỏa thuận, Petro Vietnam không chứng nhận cho những chuyển nhượng đó, nên không có trách nhiệm giải quyết.

Theo một nhân viên tham gia góp vốn theo hệ thống của Petro Vietnam, việc hoàn vốn cũng khá đơn giản. Khó khăn hiện nay tập trung ở những giao dịch trên thị trường OTC; nhưng với trường hợp cổ phần của Hồng Việt, là ngân hàng chưa thành lập nên chủ yếu là giao dịch giữa những người thân quen và có thể thỏa thuận lại dễ dàng hơn.

“Mà trong tình thế của Hồng Việt hiện nay, cũng như giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường, nhận tiền có khi còn tốt hơn nhận cổ phiếu”, ông này bình luận thêm.

Trên thị trường OTC, hiện vẫn có nhiều thông tin rao bán cổ phần Hồng Việt với mức giá từ 13.000 – 15.000 đồng. Nhà đầu tư Đặng Thùy D. (0977288…) đang rao bán 5.000 quyền mua cổ phiếu cho biết những giao dịch này là bình thường, bởi chị được mua ưu đãi theo tiêu chuẩn công ty tham gia góp vốn vào ngân hàng này.

“Trường hợp không thành lập, công ty sẽ trả lại vốn góp với lãi suất ngân hàng. Như thế cũng là bình thường”, chị D. nói.

Tuy nhiên, với những nhà đầu tư đã mua qua tay nhiều người, với mức giá cao hơn mệnh giá, rủi ro đang hiện hữu. Trên thị trường OTC ngày 24/7 vẫn có giá rao bán tới 21.500 đồng, nhưng đây cũng là thời điểm “chốt” thông tin bán ra tại nhiều đầu mối giao dịch OTC.

Một nhà đầu tư khác cho rằng đã tính trước khả năng ngân hàng này không thành lập, nhưng đó là rủi ro thường thấy trên thị trường OTC và phải chấp nhận. “Khi giao dịch đã có giấy tờ chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, người bán sẽ đứng ra hoàn vốn và chắc chắn công ty sẽ hoàn trả lại giá gốc. Còn mất phần giá chênh lệch, đó là rủi ro”, nhà đầu tư này nói.

Rủi ro đó, từ cuối năm 2006 Ngân hàng Nhà nước cũng đã có những khuyến cáo, liên quan đến việc mua – bán quyền mua cổ phiếu các ngân hàng chưa thành lập. Bản thân nhà đầu tư cũng đã lường trước. Điều mà họ chờ đợi hiện nay là sự thuận lợi trong hoàn trả lại vốn, tránh được những tranh chấp pháp lý, hoặc có thể theo khả năng cùng PetroVietnam đầu tư vào một ngân hàng khác (đồng nghĩa với yêu cầu thoái vốn tại GP Bank) cũng như cần thông tin cụ thể về hướng xử lý dự án.

Trên thị trường tự do, giá quyền mua cổ phiếu Hồng Việt có thời điểm lên tới 18.000 đồng, hiện phổ biến từ 13.500 – 16.000 đồng, nhưng giao dịch thời gian gần đây gần như “đóng băng”.

Giao dịch căn hộ, nhà phố giảm tới 90%

Posted in Kinh doanh, Vietname Economy with tags , on July 23, 2008 by keronii

Giá chung cư cao cấp giảm tới 60%

Theo Bộ Xây dựng, trong thời điểm đầu năm 2008, tại một số khu vực thuộc địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận, giá cả một số loại bất động sản (BĐS) như văn phòng cho thuê, căn hộ chung cư, đất xây dựng nhà ở riêng lẻ… tăng cao (tăng khoảng 50% so với năm 2006).

Nhưng từ tháng 3 đến nay, thị trường BĐS có chiều hướng giảm về giá và số lượng giao dịch. Có nơi, giá căn hộ chung cư cao cấp giảm 35 – 60%, giá đất nền nhà riêng lẻ, biệt thự giảm khoảng 30%. Tuy nhiên, giao dịch nhà ở có giá trị dưới 1 tỷ đồng, các căn hộ diện tích nhỏ vẫn có nhiều khách giao dịch.

Công ty BĐS VietRees cho rằng: Khi thị trường còn “non trẻ”, đa số người mua là nhà đầu tư có tâm lý không ổn định và mang tính phong trào, nên các chính sách điều tiết của Nhà nước đã nhanh chóng tác động đến thị trường này.

Và thực tế cho thấy, chỉ ngay khi có thông tin về hạn chế cho vay BĐS, thị trường đã hạ nhiệt đáng kể trong Quý 2 vừa qua. Công ty CBRE giải thích thêm, việc thắt chặt tín dụng đã gây ảnh hưởng nặng nề đến các chủ đầu tư trong nước đang cần vay vốn để đầu tư xây dựng và những người có nhu cầu vay để mua nhà.

Nhiều chủ đầu tư thiếu kinh phí để triển khai dự án, nhiều dự án bị kéo dài tiến độ, bị đình hoãn dẫn đến nguy cơ thiếu hàng hóa cho thị trường trong dài hạn. Về phía những người có nhu cầu mua nhà, khi thị trường chưa có dấu hiệu ổn định về giá cả thì rất nhiều người đã lựa chọn giải pháp “nghe ngóng và chờ đợi”. Đó cũng chính là lý do làm cho thị trường BĐS Hà Nội kém sôi động.

Mặt khác, lãi suất vay vốn cao theo tính toán đã làm tăng giá thành BĐS từ 5 – 10%, giá vật liệu đầu vào tăng 20 – 30% cũng làm tăng thêm sự mất cân đối cung cầu hàng hóa đặc biệt này trên thị trường.

Mặc dù vậy, nhưng theo VietRees thì đây là cơ hội lớn cho những công ty và tổ chức đầu tư BĐS có nguồn vốn lớn và không bị áp lực thanh khoản.

Thí điểm công bố chỉ số thị trường BĐS

Hậu quả từ việc thắt chặt tín dụng không chỉ có vậy. Thị trường đã xuất hiện xu hướng một số doanh nghiệp chuyển hướng đầu tư sang các ngành và lĩnh vực khác nhằm duy trì hoạt động của công ty để vượt qua giai đoạn này.

Rõ ràng, việc chuyển đổi ngành nghề như vậy là do các doanh nghiệp cũng đã nhìn thấy thị trường BĐS hiện nay rất khó có thể hồi phục trong thời gian ngắn.

Đây cũng là nhận định của nhiều công ty kinh doanh BĐS. Sự mất cân đối về cung cầu sẽ tiếp tục khiến giá thuê văn phòng leo thang trong giá nhà đất lắng xuống…

Trước tình hình đó, vừa qua, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có cuộc làm việc với các Bộ Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư… bàn về thực trạng và giải pháp phát triển thị trường BĐS, cải cách hành chính và thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó, tập trung vào việc hoàn thiện Đề án Thị trường BĐS Việt Nam.

Tại cuộc họp này, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Xây dựng cùng các Bộ, ngành, địa phương nhanh chóng rà soát, tập trung giải quyết những tồn tại, yếu kém của thị trường, đặc biệt là các giải pháp “tăng cung” hàng hóa thiết yếu như nhà ở đô thị, văn phòng, các công trình dịch vụ.

Các Bộ chức năng tiến hành rà soát, triển khai tốt công tác quy hoạch phát triển đô thị, tháo gỡ trực tiếp tại dự án những vướng mắc về chính sách đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện công khai, minh bạch các hoạt động trên thị trường BĐS.

Phó Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ Xây dựng nghiên cứu, xây dựng và sớm trình Chính phủ đồng thời Đề án phát triển thị trường BĐS và Đề án tạo quỹ đất của Nhà nước phục vụ các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư. Đặc biệt, đến quý 3/2008, tiến hành thí điểm việc công bố chỉ số thị trường BĐS (REMI) – một trong những tiêu chí khoa học, phản ánh xác thực về thị trường BĐS lần đầu tiên có ở Việt Nam.

Merrill Lynch “mổ xẻ” lạm phát ở Việt Nam

Posted in Vietname Economy with tags , on July 23, 2008 by keronii

Ngân hàng đầu tư Merrill Lynch của Mỹ vừa công bố một báo cáo về tình hình kinh tế châu Á, trong đó lấy Việt Nam làm tâm điểm để phân tích tình trạng lạm phát leo thang trong khu vực.

Trong bản báo cáo tựa đề “Vietnam: Anatomy of an inflation shock” (Việt Nam: Giải phẫu cú sốc lạm phát) này, các chuyên gia Merrill Lynch cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam có hàm chứa nhiều bài học quan trọng cho khu vực.

Thấy gì từ các động thái của Ngân hàng Nhà nước?
Báo cáo nhận định, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP 70 tỷ USD của Việt Nam chỉ tương đương với 1% GDP của toàn khu vực này, trừ Nhật Bản. Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình.

Theo các số liệu đưa ra trong báo cáo, các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong năm 2007 có thể đạt 5,7 tỷ USD (8,1% GDP), còn các dòng vốn khác có thể đạt khoảng 8,9 tỷ USD (12,7% GDP). Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 đạt mức 54%, thị trường chứng khoán cũng phát triển bùng nổ.

Việc có phải chính sách vĩ mô đã “gây ra” tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam hiện nay là một câu hỏi gây tranh cãi. Ở các nước châu Á khác, giá lương thực – thực phẩm tăng cao là nguyên nhân chính gây lạm phát, nhưng ở Việt Nam, giá cả các mặt hàng phi lương thực cũng tăng tới trên 10% so với cùng kỳ năm ngoái do tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu cao và thanh khoản dồi dào.

Để chống lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp mạnh trong đó có tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lãi suất cho vay cơ bản lên mức 12%. Các chuyên gia của Merrill Lynch bình luận, mức độ phản ứng của Ngân hàng Nhà nước chứng tỏ, để chống lạm phát, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ phải trả một cái giá nhất định.

Đồng thời, những lo ngại ban đầu về lạm phát đã trở thành những lo ngại trên phạm vi lớn hơn về bất ổn kinh tế vĩ mô.

“Cú sốc” lạm phát
Theo báo cáo này, những biểu hiện của một “cú sốc” lạm phát bao gồm:

  1. Thứ nhất, lạm phát tăng mạnh, khiến ngân hàng trung ương phải phản ứng mạnh bằng chính sách tiền tệ.
  2. Thứ hai, thanh khoản thắt chặt, lãi suất cao, triển vọng tăng trưởng xấu đi.
  3. Thứ ba, giá cả của những mặt hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tâm lý, như chứng khoán và bất động sản giảm nhanh; đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuống giá.

Và thứ tư, đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuống giá. Nếu chính sách tiền tệ được thắt chặt từ từ và thị trường vẫn tin tưởng vào chính sách vĩ mô, đồng nội tệ có thể lên giá. Nhưng nếu bất ổn xảy ra, triển vọng tăng trưởng xấu đi và dòng vốn ngoại chảy ra, đồng nội tệ sẽ mất giá mạnh.

Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về “cú sốc” lạm phát. Một số ví dụ khác bao gồm Trung Quốc hồi mùa xuân năm 2004 và mùa thu năm 2007, Ấn Độ đầu 2008, Indonesia mùa hè 2005…

Báo cáo cho rằng, kinh tế Việt Nam có nhiều điểm giống như kinh tế Trung Quốc, chẳng hạn cả hai nước đều mới gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng cao nhờ xuất khẩu và đầu tư… Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là cuộc chiến chống lạm phát ở Việt Nam căng thẳng hơn nhiều. Vấn đề cốt lõi – theo báo cáo nhận định – là Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn lớn hơn rất nhiều so với khả năng hấp thụ của nền kinh tế.

Merrill Lynch cho rằng, trong cuộc chiến chống lạm phát, nhìn chung Việt Nam có những điểm khác biệt cơ bản sau so với các nước châu Á khác.

Thứ nhất, Việt Nam đang ở tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, trong khi phần lớn các nền kinh tế đang nổi lên ở châu Á có cán cân vãng lai thặng dư. Thặng dư này có thể tạo ra một tấm nệm cho sự rút lui của các dòng vốn ngoại, đồng thời giúp cho việc tăng giá đồng nội tệ để chống lạm phát trở nên dễ dàng hơn, giảm bớt sự cần thiết phải tăng lãi suất.

Thứ hai, các dòng vốn đổ vào Việt Nam năm ngoái chiếm tỷ trọng khá lớn so với GDP. Trong khi đó, các dòng vốn đổ vào các nước châu Á khác chỉ ở mức khiêm tốn. Do đó, ở các nước này, việc điều hành chính sách tiền tệ ít gặp khó khăn hơn, đồng thời, cũng không có những rủi ro lớn trong trường hợp có sự rút lui đột ngột của các dòng vốn.

Và thứ ba, các nước trong khu vực còn có những yếu tố khác giúp ổn định tốt tình hình kinh tế vĩ mô mà Việt Nam không có, như dự trữ ngoại hối cao, nợ nước ngoài thấp và tình hình ngân sách lành mạnh hơn.

Thu hút đầu tư nước ngoài: “Con rồng” đang yếu thế?

Posted in Kinh doanh, The gioi with tags , on July 17, 2008 by keronii

Trung Quốc đang nỗ lực trước sức cạnh tranh gia tăng từ phía Việt Nam và Ấn Độ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong một thời gian dài, khi muốn sản xuất bất kỳ một thứ gì, từ quần áo, giày dép, đồ chơi tới túi xách, các nhà đầu tư đều tìm đến khu vực bờ biển phía Đông Nam Trung Quốc, bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Giang Tô, Phúc Kiến và Triết Giang.

Với giá nhân công rẻ, hệ thống cảng biển tiện lợi và những đặc khu kinh tế có mức thuế xuất khẩu bằng 0 và các ưu đãi khác về thuế, những thương hiệu lớn nhất thế giới đã bị hút về vùng này với một tốc độ khó tin.

Các nhà máy chuyển đi
Động lực phía sau sự phát triển kinh tế đáng nể của “con rồng” Trung Quốc chính là lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Một nửa hàng thành phẩm trên thế giới được sản xuất ở nước này. Tỷ lệ đối với hàng linh kiện và hàng bán thành phẩm cũng tương tự.

Tuy nhiên, hiện nay, do chi phí tăng cao và môi trường cạnh tranh nhiều thử thách hơn, hàng ngàn công ty đang tìm kiếm địa điểm đầu tư mới ở châu Á, ngoài Trung Quốc. Do đó, những địa điểm sản xuất hàng đầu của Trung Quốc đang phải đối với với sức ép cạnh tranh gia tăng từ những quốc gia láng giềng.

Một báo cáo do nhà kinh tế Tao Dong của Ngân hàng Credit Suisse (chi nhánh tại Hồng Kông) thực hiện dự báo rằng, 1/3 các nhà sản xuất ở tỉnh Quảng Đông – khu vực sản xuất 30% hàng xuất khẩu của Trung Quốc – sẽ đóng cửa trong vòng 3 năm tới.

“Từ quý 1/2008, tốc độ tăng trưởng trong ngày điện tử đã chậm lại”, nhà kinh tế Gao Sumei thuộc Bộ Công nghiệp của Trung Quốc cho biết. “Trong khi đó, các quốc gia láng giềng tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Do đó, một số nhà đầu tư đã chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam, Ấn Độ và các nước khác”, ông Gao nói.

Năm ngoái, hãng sản xuất hàng điện tử Nhật Bản Canon đã quyết định hợp nhất hai nhà máy ở Trung Quốc và đầu tư 700 triệu Nhân dân tệ (65 triệu Euro) để xây dựng nhà máy ở Việt Nam nhằm giảm chi phí. Việt Nam và Ấn Độ đã trở nên mạnh hơn trong cuộc đua thu hút các nhà sản xuất trong các ngành sản xuất có chi phí thấp. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, giúp tạo ra khả năng tiếp cận rộng lớn hơn của nước này với thị trường thế giới.

Tháng 7 năm ngoái, PricewaterhouseCoopers đã xếp hạng Việt Nam là đích đến cạnh tranh nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất trong số 20 thị trường mới nổi hàng đầu của thế giới. Trung Quốc chỉ xếp ở vị trí thứ hai trong danh sách này.

Tình hình hiện nay đối với Trung Quốc không sáng sủa như trước đây. Tại nước này, người ta nhận thấy môi trường đầu tư đang thay đổi, mặc dù chưa tới mức đáng ngại.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, công nhân không có trình độ được trả mức lương bình quân 1.669.000 đồng (54 Euro)/tháng, thấp hơn 41% so với những công nhân được trả lương thấp nhất ở Giang Tây, Trung Quốc.

Ở Ấn Độ, giá nhân công thậm chí còn rẻ hơn, chỉ ở mức bình quân 3.843 Rupee (57 Euro)/tháng. Chính phủ Ấn Độ hiện đang xây dựng hơn 400 đặc khu kinh tế để thu hút đầu tư nước ngoài. Người ta lo ngại giá cả tăng cao tại Trung Quốc sẽ tạo ra hiệu ứng domino đối với lạm phát trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ.

Trong số những thay đổi lớn đang diễn ra ở Trung Quốc phải kể tới luật lao động mới được áp dụng từ ngày 1/1 năm nay. Theo đó, sự bảo vệ đối với công nhân Trung Quốc, bao gồm cả lao động trong được tăng cường, đồng thời tăng thêm lương cho công nhân thêm khoảng 22% ở một số khu vực.

Về cơ bản, luật mới này yêu cầu các hợp đồng lao động phải được kí kết dưới dạng văn bản ngay trong tháng đầu tiên sử dụng lao động. Do đó, việc thuê công nhân tạm thời trở nên khó khăn hơn và đem đến sự hỗ trợ cho những công nhân bấy lâu nay bị vi phạm quyền lợi. Đúng như dự báo, phản ứng từ phía các chủ sử dụng lao động kể cả địa phương và nước ngoài đều là tiêu cực.

Báo chí Trung Quốc đưa tin bốn cửa hàng của hãng bán lẻ Wal-Mart ở Thâm Quyến, Thượng Hải, Đông Quan và Phú Kiến đã sa thải hàng trăm nhân viên vào tháng 10 năm ngoái. Công ty Huawei ở Thâm Quyến cũng đã đưa ra gói nghỉ việc tự nguyện trị giá 1 tỷ Nhân dân tệ (90 triệu USD) dành cho 7.000 công nhân. Một số công ty Hàn Quốc ở Sơn Đông đột ngột sa thải hàng trăm công nhân mà không trả lương cho họ trước khi luật trên được đưa vào áp dụng.

Cùng lúc, nhiều công ty sản xuất bảng điện in của Đài Loan tích cực tìm kiếm địa chỉ đầu tư mới trong khu vực vì những thay đổi môi trường kinh doanh ở Trung Quốc. Thành phố Đông Quan của tỉnh Quảng Đông từng một thời là “thủ phủ” giày da của thế giới, nhưng hiện nay hàng trăm nhà máy đã phải đóng cửa vì chi phí tăng cao và các công ty đang tìm kiếm nơi đầu tư mới trong khu vực, trong đó có Ấn Độ.

“Trung Quốc đã bắt đầu coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường. Quyền lợi của người lao động cũng được bảo vệ chặt hơn. Điều này đồng nghĩa với việc một số công ty sẽ phải chịu chi phí cao hơn và họ sẽ chọn cách tìm địa điểm khác để đầu tư. Đây là điều tự nhiên vì cả thế giới lúc này là một thị trường mở”, ông Wang Yukun, một nhà nghiên cứu từng làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu phát triển – Hội đồng Nhà nước Trung Quốc và hiện là cố vấn cho Ngân hàng Thế giới nói.

Một yếu tố khác dẫn tới việc nhiều công ty rời Trung Quốc là đồng Nhân dân tệ tăng giá mạnh so với USD, khiến hàng xuất khẩu từ Trung Quốc giảm sức cạnh tranh. Năm ngoái, Nhân dân tệ tăng giá 7% so với USD.

Trung Quốc vẫn yên tâm

Ông Wang cho biết: “Theo tôi được biết, nhiều công ty lớn vẫn ở lại Trung Quốc vì các nhà cung cấp chính của họ là ở Trung Quốc. Nhiều công ty có thể chọn Việt Nam hay Ấn Độ để đặt nhà máy sản xuất nhưng họ sẽ không chuyển toàn bộ công ty tới đó”.

Cần phải nói thêm, việc dịch chuyển các cơ sở sản xuất không phải là điều mà nhiều người mong đợi, nhưng Chính phủ Trung Quốc hiện đang đặt trọng tâm ưu tiên thu hút những ngành sản xuất có giá trị cao hơn bao gồm chip máy tính, hàng điện tử và xe hơi. Do đó, việc các nhà máy sử dụng nhiều nhân công rời Trung Quốc không khiến nước này quá lo ngại.

Mặt khác, nhiều công ty không chuyển hẳn ra ngoài Trung Quốc mà đơn thuần chỉ chuyển địa điểm đầu tư ngay ở nước này. Các công ty đặt tại các thành phố lớn khu vực ven biển phía Đông Nam đã chuyển sâu vào trong nội địa nơi chi phí sản xuất rẻ hơn. Chính phủ Trung Quốc cũng nỗ lực đưa ra nhiều chương trình khuyến khích các công ty tới các địa phương có giá nhân công rẻ.

Mặc dù vậy, ở những địa phương này, các nhà đầu tư lại phải đối mặt với những vấn đề tương tự như ở Việt Nam, Ấn Độ hay Thái Lan – đó là công nhân thiếu kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng yếu kém và cảng biển cách xa.

Đối với Chính phủ Trung Quốc, mục tiêu chính luôn là thúc đẩy sự ổn định, trong khi đó, sự phát triển mạnh mẽ của một số khu vực sản xuất chính đã nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa người dân ở các thành phố ven biển và hơn 700 triệu người sống ở các địa phương nằm sâu trong nội địa. Do đó, chính sách “Hướng Tây” khuyến khích người dân di chuyển tới những khu vực phía Tây đã khiến Chính phủ Trung Quốc chi 1.000 tỷ Nhân dân tệ từ năm 2005 tới nay.

Một báo cáo của ngân hàng Royal Bank of Scottland tin rằng ảnh hưởng của việc các nhà đầu tư ở Trung Quốc chuyển sang Việt Nam hay Ấn Độ đối với nước này chỉ là nhỏ. Dân số 84 triệu người của Việt Nam nhỏ hơn dân số 93 triệu người của tỉnh Quảng Đông. Mặt khác, mặc dù các nhà máy thuộc các lĩnh vực đòi hỏi nhiều nhân công có thể chuyển đi, những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn vẫn ở lại Trung Quốc do các rào cản để đầu tư vào những ngành này ở Trung Quốc hiện đã cao hơn và tỷ suất lợi nhuận cũng cao hơn.

Một cuộc điều tra gần đây đối với các nhà đầu tư Hồng Kông có nhà máy ở Trung Quốc cho thấy 14% trong số này tính chuyện chuyển nhà máy sang Việt Nam, còn 29% dự định ở lại Trung Quốc và chỉ chuyển nhà máy tới những khu vực có chi phí thấp hơn.

Không ai cho rằng sức cạnh tranh của Trung Quốc sẽ biến mất ngày một ngày hai và đa phần các nhà kinh tế đều tin rằng hàng hóa từ quốc gia đông dân nhất châu Á sẽ còn có mức giá rẻ trong nhiều năm nữa. Những con số về tăng trưởng của Trung Quốc, dù giảm nhẹ, vẫn là những con số đáng thán phục.

Theo tính toán của hãng tin Bloomberg, năm ngoái, lượng hàng công nghệ cao mà Trung Quốc xuất khẩu tăng 412% so với năm 2002 lên mức 347,8 tỷ Nhân dân tệ (32 tỷ Euro), chiếm 28,5% toàn bộ kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 11,9% vào tăng trưởng GDP của nước này. Kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ tăng trưởng 10% trong năm nay và 9,5% trong năm tới.

Rõ ràng, sự bùng nổ của lĩnh vực sản xuất ở Trung Quốc vẫn chưa tới hồi kết.

Lãi suất cho vay chưa giảm – Vì sao?

Posted in Kinh doanh, Vietname Economy with tags on July 17, 2008 by keronii

Đúng một tuần kể từ ngày BIDV công bố hạ lãi suất cho vay, khối ngân hàng thương mại cổ phần vẫn không có bất cứ một động thái “ủng hộ” nào. Nguyên nhân vì sao?Ngày 9/7, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chính thức hạ lãi suất cho vay với mức giảm từ 02% – 0,6% đối với VND và 2% lãi suất cho vay ngắn hạn ngoại tệ.

Quyết định giảm lãi suất cho vay của BIDV là một tin vui đối với các doanh nghiệp và cũng là một tín hiệu cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay có thể giảm. Nhưng trên thực tế, hiện không có thêm ngân hàng nào công bố hạ lãi suất cho vay.

Theo đánh giá của giám đốc một ngân hàng thương mại, mức giảm của BIDV thoạt nhìn có vẻ “hoành tráng” nhưng xem kỹ thì các khách hàng chỉ được giảm có 0,2% (một mức giảm không lớn); còn mức giảm 0,6% chỉ dành cho các dự án trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ, cho các ngành hàng tạo ra cân đối lớn cho nền kinh tế (xăng dầu, xi măng, điện lực, sắt thép, than), thi công xây lắp các công trình trọng điểm hoàn thành năm 2008 và 2009…

“BIDV là ngân hàng quốc doanh nên việc giảm lãi suất cho các dự án của Nhà nước lên tới 0,6% là điều mà ngân hàng này phải làm. Đây là lý do vì sao quyết định của BIDV chưa thể là “tín hiệu” cho ngân hàng khối thương mại chúng tôi giảm theo”.

Tuy nhiên, vị giám đốc này cũng cho biết ngân hàng ông cũng đang nghiên cứu khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay, để nếu các ngân hàng bạn giảm sẽ giảm theo và giảm mức nào là hợp lý nhất.

Theo PGS,TS. Nguyễn Thị Mùi, Phó Giám đốc Học viện Tài chính: Một khi lãi suất tăng lên, các ngân hàng phải có điều kiện tiếp tục huy động vốn nhưng lãi suất tăng lên vào tháng 6 vừa qua, việc huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng tăng rất ít, điều này có nghĩa là vốn nhàn rỗi trong dân cư cũng không phải là vô hạn.

“Thu nhập của dân cư Việt Nam thấp, điều chỉnh lãi suất đầu vào tăng lên sẽ dẫn tới đầu ra tăng. Đầu ra tăng thực chất đối với ngân hàng không có lợi, ngân hàng sẽ bị giảm lợi nhuận, các khách hàng cũng khó tiếp cận với nguồn vốn. Lúc này các ngân hàng buộc phải sàng lọc khách hàng và những khách nào thật sự có dự án đem lại hiệu quả như mong muốn, cần vay vốn nhanh mới dám đi vay để đầu tư”, PGS,TS.Nguyễn Thị Mùi phân tích.

Cũng theo vị PGS,TS này, việc các ngân hàng chưa hạ cũng có lý do của họ. “Vì kinh doanh không thể theo đám đông, người ta hạ mình hạ, người ta lên mình lên. Mà nó phải căn cứ vào tình trạng quản trị tài sản nợ và có của từng ngân hàng, vào xu hướng lạm phát được kiểm soát và kiềm chế ở mức giảm đi những tháng sau này’.

Tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia, việc giảm lãi suất cho vay hiện nay sẽ thiệt thòi một chút đối với các ngân hàng, nhưng lại có lợi về trung và dài hạn. Bởi khi cắt giảm lãi suất cho vay, ngân hàng sẽ có nhiều cơ hội thu hút các khách hàng tiềm năng về phía mình, không những giữ được các khách hàng truyền thống mà còn có thể tăng thị phần chính trong lúc này.

“Khi các yếu tố cho phép tạo điều kiện phát triển đúng mức và lành mạnh, các ngân hàng cũng nên cân nhắc đến giá mua và bán vốn một cách hợp lý nhất, còn hạ bao nhiêu và hạ như thế nào là tùy thuộc vào từng ngân hàng, chứ không thể theo nhau được.

Khi thị trường tín dụng tương đối ổn định, khi đồng vốn của các ngân hàng đã kế hoạch hóa được, tôi nghĩ xu hướng giảm lãi suất để khuyến khích các doanh nghiệp đến vay vốn ngân hàng phục vụ sản xuất kinh doanh, đáp ứng một khối lượng tiêu dùng toàn xã hội, cân đối giữa cung và cầu hàng hóa trên thị trường là phải đặt ra”, một chuyên gia bày tỏ.

Theo Ngân hàng Nhà nước, hiện số dư tiền gửi của các ngân hàng tại đây đã thừa, tính thanh khoản của hệ thông được bảo đảm. Nhưng số dư đó không đồng đều giữa các khối ngân hàng. Các ngân hàng thương mại lớn có mức dự trữ vượt yêu cầu, song một số ngân hàng TMCP vừa và nhỏ lại dự trữ ở mức thấp (vừa đủ hoặc thấp hơn so với mức yêu cầu dự trữ bắt buộc).

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở với khối lượng mỗi phiên từ 5.000 – 12.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày và lãi suất 15%/năm.

Còn theo đánh giá về mức độ giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng, một chuyên gia tài chính tiền tệ cho biết: “Các ngân hàng đang nhìn nhau, bởi không ai muốn tăng dư nợ tín dụng của mình cả, khá nhiều ngân hàng đang lo dư nợ tín dụng sẽ vượt quá 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Theo tính toán, tổng dư nợ 6 tháng đầu năm của các ngân hàng đã tăng tới 18,72%”.

Giá đôla trên thị trường tự do xuống sát 17.000 đồng

Posted in Kinh doanh with tags , on July 9, 2008 by keronii

Một số ngân hàng cũng vừa tuyên bố sẵn sàng bán đôla cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân có nhu cầu, và cam kết bán ra theo đúng tỷ giá niêm yết.

Giá đôla “chợ đen” tiếp tục giảm nhẹ, đến chiều giá mua vào – bán ra đã xuống mức 16.950-17.030 đồng cho mỗi đôla. Một cán bộ kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng thương mại cho hay, thời gian trước giới đầu cơ thường đợi lợi nhuận cho mỗi đôla đạt 200-300 VND mới bán ra, thì nay họ đã chấp nhận chỉ lãi 20-50 VND. Tỷ giá niêm yết tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) hôm 9/7 là 16.845-16.851 đồng.

Từ 8/7, các ngân hàng thương mại đồng loạt tuyên bố tăng cường bán ra đôla, và bán với giá niêm yết. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thông báo, từ ngày mùng 9 sẽ tăng bán ra đôla cho khách hàng doanh nghiệp cũng như cá nhân với tỷ giá niêm yết. BIDV cũng khẳng định, hiện ngân hàng này có đủ khả năng cân đối nguồn vốn ngoại tệ cho nhu cầu của khách hàng.

Các doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống người dân và sản xuất trong nước như xăng dầu, nguyên liệu cho hàng xuất khẩu, nguyên liệu dược phẩm đều được mua đôla đủ 100% nhu cầu. Với hàng hóa tiêu dùng xa xỉ, BIDV sẽ không cung ứng ngoại tệ. Ngân hàng này cho hay, với một số doanh nghiệp nhập khẩu không thuộc nhóm được ưu tiên, BIDV sẽ thực hiện nguyên tắc thoả thuận.

Nhà băng cũng thông báo đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho nhu cầu chữa bệnh, đi công tác, khảo sát, hội thảo và du học tại nước ngoài của khách hàng cá nhân. Riêng với những người đi du lịch nước ngoài, mức tối đa mà nhà băng bán ra là 7.000 USD, cho các khách hàng có chuyến đi trên 10 ngày.

Trên thị trường liên ngân hàng, BIDV cho hay sẽ cung ứng thường xuyên trong các ngày giao dịch để giúp cân bằng cung cầu và bình ổn tỷ giá trên thị trường ngoại hối. Trong tổng lượng ngoại tệ mà BIDV bán ra, khoảng 20% là phục vụ nhu cầu của các ngân hàng nước ngoài.

Ngân hàng này cũng tuyên bố sẽ giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với ngoại tệ.

Theo đó, với các mặt hàng nhập khẩu hàng hóa thiết yếu và là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu, mức lãi suất sẽ giảm 2% so với mức tối đa đang áp dụng 8,8% mỗi năm. Lãi suất cho vay đối với các mặt hàng nhập khẩu còn lại sẽ giảm 1% so với mức 9,8% hiện nay.

Cùng với BIDV, Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng thông báo sẵn sàng cung ứng ngoại tệ cho khách hàng có nhu cầu theo khả năng cho phép. Theo Phó tổng giám đốc Techcombank Phạm Quang Thắng, nhà băng này sẽ cung ứng ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu thanh toán qua Techcombank theo tỷ giá niêm yết. Ngân hàng này cũng ưu tiên việc nhập khẩu vật tư thiết bị cho sản xuất trong nước và bán ngoại tệ cho khách hàng cá nhân cần khám chữa bệnh tại nước ngoài hoặc thanh toán học phí du học.

Một vài ngân hàng thương mại khác không công bố việc tăng cường bán ra đôla, song đều cho hay sẵn sàng cung ứng cho khách hàng trong khả năng cho phép. Hiện hầu hết nhà băng đều phân loại các đối tượng khách hàng và ưu tiên cho các doanh nghiệp nhập khẩu hàng thiết yếu và khách hàng cá nhân có nhu cầu thiết thực.

Theo quy định hiện hành, các ngân hàng có trạng thái ngoại tệ âm 10% (-10%) trở lên có đủ điều kiện để làm đơn xin mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước. Trong thông báo phát đi cuối tuần trước, Ngân hàng Nhà nước cho hay sẽ tiếp tục bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đồng thời tìm giải pháp giám sát luồng ngoại tệ vào, ra của các nhà đầu tư nước ngoài.